VinaCapital: “GDP của Việt Nam sẽ phục hồi lên 6,5% trong năm 2024”

Chuyên gia VinaCapital kỳ vọng tăng trưởng GDP của Việt Nam sẽ tăng lên 6,5% trong năm 2024 nhờ phục hồi trong xuất khẩu.
chuyen-gia-vinacapital-1937-1698224404.jpg
Ông Michael Kokalari
 

Nhận định được chuyên gia Michael Kokalari, Giám đốc phòng Phân tích kinh tế vĩ mô và Nghiên cứu thị trường, tập đoàn VinaCapital đề cập trong báo cáo về những điểm nổi bật về kinh tế Việt Nam.

VinaCapital xác định động lực thúc đẩy tăng trưởng kinh tế của Việt Nam trong trung hạn và sự phát triển kinh tế ngắn hạn ảnh hưởng đến giá cổ phiếu. Những biến động trong tốc độ tăng trưởng GDP thường là một trong những diễn biến kinh tế ngắn hạn quan trọng nhất đối với thị trường chứng khoán vì sự tăng trưởng GDP thúc đẩy tăng trưởng lợi nhuận của các doanh nghiệp.

Ông Michael Kokalari dự báo tăng trưởng GDP của Việt Nam sẽ chậm lại từ 8% vào năm 2022 xuống còn 4,7% vào năm 2023 vì 3 nguyên nhân chính.

Một, xuất khẩu và sản xuất sụt giảm trong năm nay do nhu cầu đối với các sản phẩm “Made in Vietnam” giảm. Cụ thể, xuất khẩu của Việt Nam giảm gần 10% so với cùng kỳ trong 9 tháng đầu năm 2023, do xuất khẩu sang Mỹ, thị trường xuất khẩu lớn nhất của Việt Nam giảm gần 20%.

Hai, tăng trưởng tiêu dùng trong nước gần như không thay đổi so với cùng kỳ năm ngoái (không bao gồm chi tiêu của khách du lịch), so với tốc độ tăng trưởng thông thường 8-9% trước COVID. Tâm lý thị trường đã bị ảnh hưởng bởi những thách thức đang diễn ra trên thị trường bất động sản như được thảo luận dưới đây và do xuất khẩu của Việt Nam sụt giảm – dẫn đến tình trạng một số nhà máy có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài cắt giảm nhân công (hầu hết hàng xuất khẩu của Việt Nam đều do các công ty FDI sản xuất).

Cuối cùng, lượng khách du lịch nước ngoài đã phục hồi tới gần 70% so với mức trước COVID trong năm nay. Điều này hỗ trợ tăng trưởng GDP năm 2023 của Việt Nam vì du lịch nước ngoài trước đây đã đóng góp khoảng 10% GDP, nhưng hầu như không đóng góp gì cho nền kinh tế Việt Nam trong năm ngoái.

“Chúng tôi kỳ vọng tăng trưởng GDP của Việt Nam sẽ phục hồi lên 6,5% trong năm 2024 nhờ phục hồi trong xuất khẩu. Điều này sẽ đi kèm với sự phục hồi sản lượng ngành sản xuất của Việt Nam từ mức không tăng trưởng năm 2023 lên tăng trưởng 8-9% vào năm 2024 – so với mức tăng trưởng trung bình dài hạn 12% của ngành này trước COVID”, chuyên gia nêu.

Sự lạc quan của chuyên gia VinaCapital về phục hồi tăng trưởng GDP của Việt Nam vào năm 2024 nhờ sản xuất bắt nguồn từ việc phân tích nguyên nhân gây ra các vấn đề của ngành sản xuất năm 2023: do các nhà bán lẻ Mỹ và các công ty tiêu dùng khác đã tích lũy quá nhiều hàng hóa vào năm 2022. Lý do là các công ty này đã đặt hàng quá mức trong thời gian gián đoạn chuỗi cung ứng do COVID vào năm 2021 và kỳ vọng bùng nổ chi tiêu sau COVID đã không diễn ra như mong đợi.

Thay vì mua nhiều sản phẩm hơn khi lệnh phong tỏa COVID được dỡ bỏ, người tiêu dùng lại đổ tiền vào các dịch vụ như du lịch và ăn uống ở ngoài. Do vậy, các công ty ở Mỹ đã phải giải quyết lượng hàng tồn kho này trong suốt năm 2023, mức tồn kho sụt giảm với tốc độ nhanh nhất trong gần 10 năm. Đây là yếu tố chính gây sụt giảm xuất khẩu và sản lượng sản xuất của Việt Nam trong năm nay. Tuy nhiên, rất nhiều dữ liệu cho thấy hiện tượng này sắp kết thúc và các đơn hàng xuất khẩu của Việt Nam đang phục hồi.

Bất động sản không phải yếu tố chính làm giảm tăng trưởng GDP

Số lượng bất động sản nhà ở rao bán tại TP.HCM và Hà Nội giảm khoảng 50% so với cùng kỳ trong 9 tháng của năm 2023, trong khi lượng mua nhà mới ở Trung Quốc giảm gần 10% so với cùng kỳ, sau khi đã giảm 25% trong năm 2022 (đo lường trên đơn vị diện tích sàn). Một số nhà đầu tư lo ngại rằng Việt Nam đang phải gánh chịu hậu quả của bong bóng bất động sản, điều này sẽ cản trở tăng trưởng kinh tế của đất nước trong vài năm tới.

Tuy nhiên, ông Michael Kokalari cho rằng, tình hình thị trường bất động sản Việt Nam hoàn toàn khác so với Trung Quốc, nơi có lượng cung nhà trống quá lớn. Thị trường bất động sản Việt Nam về cơ bản vẫn đang ở mức bình ổn, dù phải hứng chịu những khó khăn ngắn hạn khá nghiêm trọng.

Vị này đề cập, Trung Quốc đã trải qua một chu kỳ “bùng nổ và vỡ” thường thấy của bất động sản, trong đó các ngân hàng cho vay quá mức vào thời kỳ đỉnh cao của thị trường khiến giá nhà tăng cao và dẫn đến thừa nguồn cung. Việt Nam đã trải qua bong bóng bùng nổ và khủng hoảng bất động sản tương tự khiến tình hình kinh tế chạm đáy vào năm 2012. Nhưng kể từ khoảng thời gian đó, Việt Nam chưa trải qua thêm bất kỳ một khủng hoảng vỡ bong bóng bất động sản nào nữa.

Thêm vào đó, tình hình hiện tại chắc chắn không phải là hậu quả của bong bóng bất động sản – điều này được minh chứng bởi tỷ lệ nhà đất trống thực tế của Việt Nam vẫn còn khá khiêm tốn và thấp hơn nhiều so với Trung Quốc.

Thực tế, Việt Nam hiện không có đủ số lượng nhà ở mới để đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng của tầng trung lưu. Tầng lớp này cần những căn hộ không quá đắt tiền (tức là những căn hộ có giá khoảng 1.500 USD/m2 phục vụ nhu cầu ở thông thường).

Nút thắt đầu tiên mà các chủ đầu tư đang phải đối mặt để xây thêm nhiều chung cư/đơn vị nhà ở là quy trình phê duyệt và quy hoạch của Việt Nam, vốn đã luôn khắt khe và đặc biệt trong những năm gần đây. Ngoài ra, các chủ đầu tư cũng đang rất cần được hỗ trợ tài chính cho các hoạt động thu mua đất/quỹ đất và xây dựng các dự án – việc này cũng đồng thời làm chậm tiến độ các dự án nhà ở.

Mức lãi suất ở Việt Nam đặc biệt cao (cho tới gần đây) khiến các chủ đầu tư gặp khó khăn trong việc tiếp tục xây dựng các dự án. Việc các chủ đầu tư gặp khó khăn trong quy trình phê duyệt cũng như quy hoạch ảnh hưởng nhiều đến vấn đề vay vốn vì các ngân hàng không hỗ trợ cho các dự án vay mà không có sự phê duyệt từ các cơ quan quản lý.

Ông Michael Kokalari nhận thấy rằng Chính phủ đã có những nỗ lực nhằm giảm bớt những trở ngại mà các nhà phát triển bất động sản đang gặp phải khi xin phê duyệt cần thiết để tiến hành triển khai dự án. Những nỗ lực đó một phần xuất phát từ việc hoạt động phát triển bất động sản ở Việt Nam chậm lại đã làm ảnh hưởng đến tâm lý người tiêu dùng ở Việt Nam, điều này cũng gây sức ép lên mức chi tiêu của người dân.

Tuy nhiên, phát triển bất động sản chỉ đóng góp một phần nhỏ vào GDP của Việt Nam, vì vậy chuyên gia đánh giá: 1) Lĩnh vực phát triển bất động sản chậm không phải là yếu tố chính làm giảm tốc độ tăng trưởng GDP của Việt Nam trong năm nay (vì tốc độ phát triển bất động sản đã chậm lại kể từ năm ngoái) và 2) Lĩnh vực bất động sản trì trệ có ít tác động đến tăng trưởng GDP của Việt Nam hơn so với Trung Quốc, bởi vì phát triển bất động sản chiếm một phần lớn trong nền kinh tế của quốc gia đó.

Xuất khẩu và sản xuất sẽ phục hồi mạnh mẽ trong năm 2024

Báo cáo nêu, các nhà hoạch định chính sách của Việt Nam dường như đang hướng tới việc duy trì tỷ giá USD-VND ở mức ổn định để thúc đẩy môi trường kinh tế vĩ mô bình ổn, có lợi cho ổn định tăng trưởng GDP và giúp thu hút dòng vốn FDI. NHNN luôn cố gắng giữ tỷ giá USD-VND biến động không quá 2-3% mỗi năm. Việc giám sát chặt chẽ thị trường tiền tệ và ngoại hối của Việt Nam đã cho thấy rằng khi đạt tới ngưỡng nhất định, NHNN thường sẽ đưa ra quyết định duy trì sự ổn định.

Cuối năm 2022, giá trị USD/DXY Index tăng gần 20% so với đầu năm, điều này buộc NHNN phải tăng lãi suất vào thời điểm đó. Động thái này rõ ràng nhằm mục đích ổn định tiền VND, trong bối cảnh lạm phát lúc đó chỉ ở mức 3%. Hành động của NHNN đã giúp hạn chế tiền VND mất giá ở mức 3% vào năm ngoái.

Vào năm 2023, tăng trưởng GDP của Việt Nam chậm lại bởi các lý do đã nêu trên, dẫn đến NHNN phải mạnh tay cắt giảm lãi suất. Việc giảm lãi suất quyết liệt này là nhờ vào việc tỷ giá USD-VND ổn định trong 6 tháng đầu năm 2023, phần lớn nhờ thặng dư thương mại của Việt Nam tăng mạnh, đạt mức khoảng 7% GDP trong năm nay.

Chuyên gia VinaCapital cho rằng, trong ngắn hạn, một số vấn đề liên quan đến sản xuất và xuất khẩu từ Việt Nam vào Mỹ đã ảnh hưởng đến tăng trưởng GDP của Việt Nam, vì Mỹ là thị trường xuất khẩu lớn nhất của Việt Nam và việc các công ty Mỹ giảm bớt hàng tồn kho đã khiến nhu cầu hàng hóa “Made in Vietnam” sụt giảm. Tuy vậy, VinaCapital cũng nhận thấy những dấu hiệu xuất khẩu và sản xuất phục hồi mạnh mẽ trong năm tới.

Huyền Châm