
Nghệ An có bờ biển dài hơn 80 km, vùng ven biển rộng hàng nghìn ha với hệ thống ao, đầm, cửa sông thuận lợi cho phát triển nuôi trồng thủy sản, đặc biệt là nuôi tôm nước lợ. Nhiều địa phương như phường Quỳnh Mai, xã Quỳnh Anh, xã An Châu… đã hình thành các vùng nuôi tập trung, trong đó có những hộ mạnh dạn đầu tư hàng tỷ đồng cho mô hình tôm công nghệ cao.
Tuy nhiên, nghề nuôi tôm ở Nghệ An vẫn mang tính thời vụ, phụ thuộc lớn vào điều kiện thời tiết. Mùa đông lạnh kéo dài, nhiệt độ thấp khiến thời gian nuôi bị kéo dài hơn so với các tỉnh phía Nam. Bên cạnh đó, khu vực ven biển Nghệ An chịu ảnh hưởng thường xuyên của bão, áp thấp nhiệt đới và xâm nhập mặn, làm cho môi trường nuôi tôm biến động mạnh, khó kiểm soát.
Những năm gần đây, nhiều hộ nuôi đã mạnh dạn đầu tư hệ thống nhà màng, bể nổi, máy cho ăn tự động, công nghệ vi sinh xử lý nước, thậm chí cả hệ thống cảm biến giám sát môi trường. Tuy nhiên, việc áp dụng công nghệ chưa thực sự đồng bộ và phù hợp điều kiện tự nhiên của Nghệ An. Một số mô hình chỉ áp dụng một phần quy trình kỹ thuật như: dùng chế phẩm sinh học nhưng vẫn xả thải trực tiếp ra môi trường, hoặc dùng nhà màng nhưng không có hệ thống xử lý nước đầu vào dẫn đến hiệu quả chưa như mong đợi. Khi thời tiết thay đổi đột ngột, dịch bệnh dễ bùng phát, gây thiệt hại nặng.
Bên cạnh đó, nhiều hộ nuôi chưa nắm vững kỹ thuật vận hành. Các công nghệ cao như biofloc hay tuần hoàn nước đòi hỏi người nuôi phải am hiểu quy trình, thường xuyên theo dõi các chỉ số môi trường, điều chỉnh lượng thức ăn và vi sinh hợp lý. Trong khi đó, phần lớn người nuôi tôm ở Nghệ An xuất thân từ nông dân, chưa được đào tạo bài bản, nên việc “công nghệ hóa” sản xuất đôi khi chỉ dừng lại ở hình thức, chưa phát huy được hiệu quả thực sự.

Một thực tế đáng lo ngại là chất lượng môi trường nuôi tôm tại nhiều vùng ven biển Nghệ An đang bị suy giảm nghiêm trọng. Do nuôi trồng dày đặc, xả thải chưa qua xử lý, nguồn nước tại các ao, đầm bị ô nhiễm hữu cơ, vi sinh vật gây bệnh phát triển mạnh. Nhiều vùng như xã Quỳnh Anh, An Châu… từng ghi nhận tình trạng tôm chết hàng loạt do bệnh đốm trắng, hoại tử gan tụy cấp tính, hoặc sốc môi trường...
Công tác quy hoạch và quản lý vùng nuôi chưa đồng bộ. Một số nơi chưa có hệ thống kênh cấp, thoát nước riêng biệt dẫn đến “nước bẩn nuôi lại nước bẩn”, tạo vòng luẩn quẩn gây bệnh. Dù có áp dụng kỹ thuật tiên tiến đến đâu, nếu nguồn nước và môi trường chung không đảm bảo, tôm vẫn khó phát triển ổn định.
Bên cạnh đó, nguồn giống tôm tại Nghệ An vẫn phụ thuộc nhiều vào các tỉnh phía Nam. Do khâu kiểm soát chất lượng chưa chặt chẽ, một số giống kém chất lượng, nhiễm bệnh được đưa vào địa bàn, gây thiệt hại lớn cho người nuôi. Thêm vào đó, vật tư đầu vào như thức ăn, chế phẩm sinh học, thuốc xử lý nước tràn lan, nhiều loại không rõ nguồn gốc, khiến người nuôi khó lựa chọn và dễ bị “mắc bẫy” hàng giả, hàng kém chất lượng. Việc sử dụng tùy tiện các loại hóa chất cũng làm mất cân bằng hệ vi sinh trong ao, ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe tôm và môi trường nuôi.
Một vấn đề khác khiến nghề nuôi tôm ở Nghệ An bấp bênh là thiếu liên kết giữa người nuôi – doanh nghiệp – nhà khoa học – cơ quan quản lý. Phần lớn người dân nuôi theo kinh nghiệm cá nhân, tự tìm đầu ra nên thường bị thương lái ép giá. Khi giá tôm giảm, người nuôi bị thua lỗ nặng. Khi giá tăng lại thiếu sản lượng cung ứng. Các doanh nghiệp chế biến xuất khẩu chưa mặn mà đầu tư vùng nguyên liệu tại chỗ, trong khi người nuôi lại khó tiếp cận vốn tín dụng do rủi ro cao. Thiếu liên kết khiến sản xuất không ổn định, sản phẩm chưa xây dựng được thương hiệu tôm Nghệ An đủ mạnh để cạnh tranh với các địa phương khác.

Để ổn định sản lượng và hướng tới phát triển nghề nuôi tôm bền vững, Nghệ An cần tập trung một số giải pháp trọng tâm như quy hoạch lại vùng nuôi tôm hợp lý, tách riêng hệ thống cấp và thoát nước, đầu tư hạ tầng xử lý nước thải, giảm ô nhiễm môi trường.
Tăng cường đào tạo kỹ thuật cho người nuôi, giúp họ hiểu rõ và vận dụng đúng các công nghệ mới, tránh tình trạng “hiểu nửa vời”. Đồng thời, khuyến khích hình thành tổ hợp tác, hợp tác xã nuôi tôm công nghệ cao, nhằm liên kết sản xuất, chia sẻ kinh nghiệm và bảo vệ môi trường chung.
Kiểm soát chặt chẽ nguồn giống và vật tư đầu vào, ưu tiên các cơ sở sản xuất giống đạt chuẩn, đảm bảo truy xuất nguồn gốc. Nhà nước cần hỗ trợ xây dựng các trại giống chất lượng tại chỗ, giảm phụ thuộc bên ngoài.
Phát triển chuỗi liên kết bền vững giữa người nuôi và doanh nghiệp chế biến, hướng tới tiêu chuẩn./.