Theo Luật Việc làm 2025, bảo hiểm thất nghiệp là loại hình bảo hiểm bắt buộc do Nhà nước tổ chức, có sự tham gia của người lao động và người sử dụng lao động, nhằm hỗ trợ duy trì việc làm, đào tạo, tư vấn, giới thiệu việc làm và bù đắp một phần thu nhập cho người lao động khi bị mất việc làm, trên cơ sở đóng vào Quỹ bảo hiểm thất nghiệp.
Tại Việt Nam, chính sách này không chỉ giúp người lao động có thêm khoản chi tiêu trong thời gian thất nghiệp mà còn hỗ trợ tìm kiếm công việc mới.

Về đối tượng tham gia, Điều 31 Luật Việc làm 2025 quy định người lao động thuộc diện tham gia bảo hiểm thất nghiệp bao gồm người làm việc theo hợp đồng lao động không xác định thời hạn, hợp đồng lao động xác định thời hạn từ đủ 01 tháng trở lên, kể cả trường hợp thỏa thuận bằng tên gọi khác nhưng có nội dung thể hiện việc làm có trả công, tiền lương và sự quản lý, điều hành, giám sát của một bên. Người lao động làm việc không trọn thời gian nhưng có tiền lương trong tháng bằng hoặc cao hơn tiền lương làm căn cứ đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc thấp nhất theo quy định cũng thuộc diện tham gia.
Ngoài ra còn có người làm việc theo hợp đồng làm việc; người quản lý doanh nghiệp, kiểm soát viên, người đại diện phần vốn của doanh nghiệp; thành viên hội đồng quản trị, tổng giám đốc, giám đốc, thành viên ban kiểm soát hoặc kiểm soát viên và các chức danh quản lý khác được bầu của hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã theo quy định của Luật Hợp tác xã có hưởng tiền lương.
Trong trường hợp người lao động đồng thời thuộc nhiều đối tượng tham gia bảo hiểm thất nghiệp khác nhau, người lao động và người sử dụng lao động có trách nhiệm tham gia bảo hiểm thất nghiệp cùng với việc tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc.
Tuy nhiên, người lao động đang hưởng lương hưu, trợ cấp bảo hiểm xã hội hoặc trợ cấp hằng tháng; người đủ điều kiện hưởng lương hưu; người làm việc theo hợp đồng thử việc; người giúp việc gia đình thì không thuộc đối tượng tham gia.
Người sử dụng lao động tham gia bảo hiểm thất nghiệp bao gồm cơ quan nhà nước, đơn vị sự nghiệp công lập; các cơ quan, đơn vị, doanh nghiệp thuộc Quân đội nhân dân, Công an nhân dân; các tổ chức chính trị, chính trị – xã hội; cơ quan, tổ chức nước ngoài, tổ chức quốc tế hoạt động tại Việt Nam; doanh nghiệp, hợp tác xã, hộ kinh doanh, tổ chức khác và cá nhân có thuê mướn, sử dụng lao động theo quy định.
Ngoài ra, Ủy ban Thường vụ Quốc hội quyết định việc tham gia bảo hiểm thất nghiệp đối với các đối tượng khác có việc làm, thu nhập ổn định, thường xuyên theo đề xuất của Chính phủ, phù hợp với điều kiện phát triển kinh tế – xã hội từng thời kỳ.
Liên quan đến việc bảo lưu thời gian đóng bảo hiểm thất nghiệp từ năm 2026, Điều 8 Nghị định 374/2025/NĐ-CP quy định nhiều trường hợp cụ thể. Người lao động đang hưởng trợ cấp thất nghiệp mà còn tháng đóng bảo hiểm thất nghiệp chưa được giải quyết hưởng trợ cấp thì được bảo lưu.
Với người có thời gian đóng trên 36 tháng đến đủ 144 tháng, phần thời gian chưa được giải quyết hưởng trợ cấp thất nghiệp được bảo lưu; nếu đóng trên 144 tháng thì những thời gian chưa được giải quyết hưởng trợ cấp thất nghiệp không được bảo lưu.
Trường hợp người lao động bị hủy quyết định hưởng trợ cấp thất nghiệp thì thời gian đóng bảo hiểm thất nghiệp chưa hưởng trợ cấp cũng được bảo lưu. Người đang hưởng trợ cấp thất nghiệp nhưng bị chấm dứt hưởng thuộc các trường hợp quy định tại khoản 5 Điều 41 Luật Việc làm 2025 thì thời gian đã đóng mà chưa hưởng trợ cấp được bảo lưu.
Ngoài ra, người lao động không đến nhận tiền trợ cấp thất nghiệp sau 3 tháng kể từ ngày hết thời hạn hưởng, nếu không có thông báo bằng văn bản, thì số tháng tương ứng với thời gian không nhận tiền cũng được bảo lưu.
Nghị định cũng quy định rõ việc bảo lưu đối với trường hợp người lao động được cơ quan bảo hiểm xã hội xác nhận bổ sung thời gian đóng bảo hiểm thất nghiệp sau khi chấm dứt hưởng trợ cấp thất nghiệp. Nếu thời gian đóng từ 36 tháng trở lên làm căn cứ giải quyết hưởng trợ cấp, phần thời gian được xác nhận bổ sung sẽ được bảo lưu để tính cho lần hưởng sau khi đủ điều kiện.
Trường hợp thời gian đóng dưới 36 tháng, việc bảo lưu được xác định theo công thức cụ thể, trên cơ sở số tháng đã xét hưởng, số tháng xác nhận bổ sung và số tháng tương ứng với thời gian đã nhận trợ cấp hoặc bị tạm dừng, chấm dứt hưởng. Thời gian bảo lưu được ghi vào sổ bảo hiểm xã hội theo đúng nguyên tắc và căn cứ các quyết định liên quan.
Về quyền lợi, người lao động đủ điều kiện sẽ được hưởng trợ cấp thất nghiệp nhằm bù đắp một phần thu nhập khi mất việc, nếu đáp ứng các điều kiện tại Điều 38 Luật Việc làm 2025. Cụ thể, người lao động phải chấm dứt hợp đồng lao động hoặc hợp đồng làm việc đúng quy định, đã đóng bảo hiểm thất nghiệp từ đủ 12 tháng trở lên trong thời gian 24 tháng trước khi chấm dứt hợp đồng; trường hợp hợp đồng từ đủ 01 tháng đến dưới 12 tháng thì phải đóng đủ 12 tháng trong thời gian 36 tháng trước khi chấm dứt.
Đồng thời, người lao động phải nộp đủ hồ sơ trong thời hạn 03 tháng kể từ ngày chấm dứt hợp đồng và sau 10 ngày làm việc kể từ ngày nộp đủ hồ sơ vẫn chưa có việc làm, không thuộc các trường hợp loại trừ theo quy định. Bên cạnh trợ cấp tiền, người lao động còn được tư vấn, giới thiệu việc làm miễn phí; được hỗ trợ học nghề để tăng khả năng tìm việc mới; và được hỗ trợ đào tạo, bồi dưỡng, nâng cao kỹ năng nghề nhằm duy trì việc làm.
Mức đóng bảo hiểm thất nghiệp được quy định tại Điều 4 Nghị định 374/2025/NĐ-CP. Theo đó, người lao động đóng bằng 1% tiền lương tháng; người sử dụng lao động đóng bằng 1% quỹ tiền lương tháng của những người lao động đang tham gia. Đối với cơ quan, đơn vị do ngân sách nhà nước bảo đảm toàn bộ hoặc một phần kinh phí hoạt động thường xuyên, nguồn đóng bảo hiểm thất nghiệp được bố trí từ ngân sách theo quy định.
Doanh nghiệp và các đơn vị sản xuất, kinh doanh hạch toán khoản đóng này vào chi phí sản xuất, kinh doanh, dịch vụ. Nhà nước hỗ trợ tối đa 1% quỹ tiền lương tháng đóng bảo hiểm thất nghiệp của những người lao động đang tham gia, bảo đảm duy trì số dư quỹ hằng năm bằng 02 lần tổng chi các chế độ bảo hiểm thất nghiệp và chi tổ chức, hoạt động của năm trước liền kề, với phương thức chuyển kinh phí cụ thể từ ngân sách trung ương vào Quỹ bảo hiểm thất nghiệp.
Về thời gian hưởng, cứ đóng đủ 12 tháng đến đủ 36 tháng thì người lao động được hưởng 3 tháng trợ cấp thất nghiệp; sau đó, cứ đóng đủ thêm 12 tháng thì được hưởng thêm 1 tháng, nhưng thời gian hưởng cho một lần tối đa không quá 12 tháng. Như vậy, người lao động đủ điều kiện và đã đóng bảo hiểm thất nghiệp từ đủ 12 tháng trở lên sẽ được hưởng bảo hiểm thất nghiệp theo quy định hiện hành.