“Em chỉ nghĩ nếu mình không làm, thì không ai làm cả. Và em không thể bỏ lại ai giữa biển sâu” – Đó là câu nói chân thực, giản dị nhưng khiến người nghe phải nghẹn lời khi Đinh Đức Hiệp – một người thợ mỏ – kể lại hành trình sinh tử mà anh và hàng chục người khác trải qua trong vụ tai nạn lật tàu trên vịnh Hạ Long vào đúng lúc cơn bão quái ác ập đến.
Hiệp không phải là người cứu hộ chuyên nghiệp, càng không được huấn luyện kỹ năng sinh tồn dưới nước. Anh là một người thợ lò, đã quen với bóng tối, với không gian chật hẹp và những tình huống nguy hiểm trong lòng đất. Nhưng chính những điều tưởng như bình thường đó đã rèn cho Hiệp bản lĩnh, sự tỉnh táo và tinh thần không bỏ cuộc, điều làm nên một “anh hùng thầm lặng” trong một tai nạn kinh hoàng.
Khi con tàu bất ngờ lật úp trong cơn dông lốc dữ dội, Hiệp cùng mẹ, người yêu mình (theo lời anh Hiệp, người mà sẽ cùng anh lên con tàu hạnh phúc vào dịp tháng 11 tới đây) và hàng chục hành khách rơi vào trạng thái hỗn loạn, hoảng loạn, vùng vẫy giữa bóng tối và làn nước dâng. Giữa lúc đó, Hiệp tìm được khoang máy còn chưa bị ngập nước, nhận thấy đây là nơi tạo ra một hy vọng sống mong manh giữa lòng biển. Ngay lập tức Hiệp đã quay lại hô hoán, hướng dẫn mọi người chui vào trú ẩn, cùng với đó Hiệp đã đưa cả mẹ mình vào nơi an toàn tạm thời.
Chỉ có thể thoát ra khỏi tàu, lên mặt nước trước khi hết ô-xi mới có cơ hội sống tiếp, Hiệp động viên mọi người bình tĩnh, cùng với đó ngay lập tức đã lặn ngược vào khoang khách để tìm đường thoát. Sau ba lần lặn xuống, cuối cùng Hiệp cũng làm vỡ được một ô cửa kính của khoang hành khách, và lặn thoát đượ ra ngoài, bám và trèo lên phần đuôi tầu còn nổi trên mặt nước.
Không chỉ tham sự sống cho riêng bản thân mình, ngay lập tức Hiệp đã lặn ngược vào khoang máy để cùng hướng dẫn những người trong đó (có cả mẹ của mình) thoát ra theo con đường mà anh đã mở.
Lần thứ nhất, sau khoảng 7 phút chờ bên ngoài, Hiệp kéo được một người đàn ông lên, Lần thứ hai và thứ 3, anh tiếp tục cứu được một người đàn ông và một người phụ nữ.
Chờ mãi chưa thấy mẹ đâu, Hiệp có hỏi người phụ nữ ra thứ 3: “Mẹ em đâu?”, người đó chobiết, mẹ bị thương ở đùi và sợ không dám lặn ra. Lúc này Hiệp rất lo lắng, phía đuôi tàu nổi cũng chính là phía ngoài của khoang máy, Hiệp đập vào đuôi tàu và nói lớn, động viên mẹ cố gắng lặn ra Hiệp và mấy anh chị đã chờ sẵn bên ngoài, được con trai động viên mẹ Hiệp đã dũng cảm lặn thoát ra ngoài.
Với tinh thần không để ai bị bỏ lại, Hiệp tiếp tục lặn xuống để xem có cứu được ai không, lúc này Hiệp đã kéo được một người đàn ông bị thương nặng, dù kéo ra được nhưng không qua khỏi, Hiệp đã buộc thi thể lại để tránh trôi dạt.
Sau khi lặn nhiều lần Hiệp đã rất mệt, nhưng vẫn muốn quay lại tìm người yêu và xem có cứu được ai nữa không, Hiệp quay xuống nhưng lúc này gần như đã kiệt sức cùng với tâm lý sợ hãi, Hiệp không dám lặn vào trong tàu nữa, Hiệp dùng 2 chân quờ vào trong tàu xem có ai thì kéo ra, lúc này chạm được vào chân của 1 người, Hiệp đã cố gắng lấy 2 chân của mình kẹp vào để kéo ra, khi dùng 2 chân kéo nạn nhân ra.
Đau đớn thay, trong quá trình kéo nạn nhân ra nhận ra đó là người yêu mình, anh đã kéo đượccô ra ngoài và cùng mọi người thay nhau hô hấp nhân tạo nhưng cô gái ấy, người mà đáng nhẽ sẽ cùng anh đi trên con tàu hạnh phúc dịp cuối tháng 11 tới đây, chứ không phải con tàu của số phận ngày hôm nay đã không thể qua khỏi…
“Không ai bị bỏ lại phía sau” – Thông điệp nhân văn từ người thợ mỏ giữa lằn ranh sự sống và cái chết
Câu chuyện của Hiệp không chỉ khiến chúng ta nghẹn ngào vì tình yêu dang dở, mà còn khâm phục trước lòng quả cảm – một bản lĩnh kiên cường của người lao động ngành than. Những đức tính ấy được hun đúc từ chính công việc khắc nghiệt – nơi bóng tối, hiểm nguy, nơi không có chỗ cho sự sợ hãi và do dự.
Chính vì vậy, hành động của Hiệp là minh chứng sống động cho tinh thần "Kỷ luật và Đồng tâm" – giá trị cốt lõi mà ngành Than – Khoáng sản Việt Nam luôn gìn giữ và phát huy.
Câu chuyện của người thợ mỏ Đinh Đức Hiệp sẽ còn được nhắc lại không chỉ trong niềm tiếc thương cho những mất mát mà còn như một biểu tượng lặng thầm của lòng dũng cảm, của tình yêu, và sự sống nảy mầm từ lòng nhân ái giữa hiểm nguy. Trong thời đại mà sự vô cảm đôi khi lên ngôi, thì những con người như Hiệp chính là tia sáng thắp lên niềm tin.
Phóng viên Tạp chí Doanh nghiệp và Kinh tế xanh có cuộc trò chuyện với đồng chí Nguyễn Văn Thuấn – Bí thư Đoàn Thanh niên Tập đoàn Công nghiệp Than - Khoáng sản Việt Nam (TKV) sau khi lắng nghe câu chuyện cảm động và đầy nghị lực của thợ mỏ Đinh Đức Hiệp.
Phóng viên: Thưa đồng chí Bí thư, khi nghe câu chuyện của đồng chí Đinh Đức Hiệp – một người thợ mỏ trẻ thuộc Tập đoàn – đã dũng cảm cứu người trong vụ lật tàu vừa qua, đồng chí cảm nhận như thế nào?
Bí thư Nguyễn Văn Thuấn: Thật sự, tôi rất xúc động. Đó không chỉ là một câu chuyện cảm động mà còn là biểu tượng sống động của tinh thần "Kỷ luật và Đồng tâm" - giá trị cốt lõi của người thợ mỏ TKV. Đinh Đức Hiệp - trong thời khắc sinh tử - không chỉ bình tĩnh tìm đường sống cho mình, mà còn quay lại nhiều lần, liều mình giải cứu người thân và đồng bào. Kể cả khi bản thân đã mệt lả, tổn thương tinh thần sâu sắc vì người yêu mất đi ngay trong vòng tay mình.
Câu chuyện ấy khiến tôi và nhiều người không kìm được nước mắt. Nhưng trên hết, nó tiếp thêm cho chúng tôi niềm tin vào lớp thanh niên công nhân – những người trẻ đang lặng thầm ngày đêm cống hiến cho đất nước trong bóng tối của lòng đất.
Phóng viên: Vậy theo đồng chí, câu chuyện của Hiệp mang đến thông điệp gì đối với tổ chức Đoàn cũng như cộng đồng?
Bí thư Nguyễn Văn Thuấn: Tôi tin rằng, từ câu chuyện này, có ít nhất ba điều quan trọng mà tổ chức Đoàn và xã hội cần suy ngẫm và lan tỏa.
Thứ nhất, đó là “lòng dũng cảm và trách nhiệm xã hội” của thế hệ trẻ. Trong khi nhiều người nghĩ đơn giản “lo cho mình trước”, thì Hiệp lại làm điều ngược lại – quay lại nơi nguy hiểm nhất để cứu người khác. Không phải ai cũng đủ bản lĩnh làm như vậy, đặc biệt khi người ta đang cận kề cái chết.
Thứ hai, câu chuyện ấy khơi gợi “tinh thần không bỏ rơi ai phía sau” – một giá trị vô cùng nhân văn. Khi người thân, thậm chí là người xa lạ gặp nạn, Hiệp vẫn lựa chọn ở lại, tìm cách cứu lấy họ. Tôi nghĩ, đây là điều mà tổ chức Đoàn cần đẩy mạnh trong giáo dục thanh niên: tình người, lòng nhân ái và tinh thần sẻ chia trong mọi hoàn cảnh.
Thứ ba, là bài học về “bản lĩnh người thợ mỏ”. Làm việc trong môi trường khắc nghiệt như hầm lò, người thợ mỏ buộc phải rèn luyện cho mình tính kỷ luật, phản xạ nhanh nhạy, tinh thần đoàn kết, tất cả những điều đó đã giúp Hiệp có đủ tỉnh táo và năng lực để cứu người trong một tình huống hiểm nghèo. Từ thực tiễn công việc hằng ngày, người lao động TKV đang góp phần tạo nên những “chiến binh thầm lặng” như Hiệp.
Phóng viên: Vậy tổ chức Đoàn TKV sẽ có những hành động cụ thể nào để lan tỏa giá trị từ tấm gương này?
Bí thư Nguyễn Văn Thuấn: Chắc chắn rồi. Trước hết, chúng tôi sẽ đề xuất tuyên dương đồng chí Đinh Đức Hiệp trong hệ thống tổ chức Đoàn TKV và đề xuất lên cấp cao hơn, cụ thể là Đoàn Thanh niên Chính Phủ và Trung Ương Đoàn. Đây là việc cần thiết để cổ vũ tinh thần cống hiến, dấn thân, lan tỏa giá trị sống đẹp, sống có trách nhiệm trong đoàn viên thanh niên.
Chúng tôi cũng sẽ đưa câu chuyện của Hiệp trở thành một chuyên đề sinh hoạt chi đoàn, gắn với chủ đề “Thanh niên bản lĩnh, sống trách nhiệm và nhân ái”, đồng thời đẩy mạnh tuyên truyền trên các nền tảng truyền thông của Đoàn Thanh niên TKV.
Tôi tin rằng, mỗi câu chuyện đẹp như thế này nếu được kể lại bằng lòng tin và cảm xúc, sẽ truyền cảm hứng cho hàng nghìn bạn trẻ khác, từ trong ngành than đến ngoài xã hội.
Phóng viên: Một câu hỏi cuối, nếu đồng chí có thể gửi một lời nhắn nhủ đến đoàn viên thanh niên và cộng đồng, từ câu chuyện của Hiệp, thì đó sẽ là gì?
Bí thư Nguyễn Văn Thuấn: Tôi chỉ muốn nói một câu thôi – câu nói của chính người thợ mỏ Đinh Đức Hiệp: “Nếu mình không làm, thì không ai làm cả.”
Trong lúc hiểm nguy, anh không nghĩ nhiều, chỉ hành động vì sự sống của người khác. Nếu mỗi người chúng ta sống với tinh thần ấy – biết đứng lên trong nghịch cảnh, dám chịu trách nhiệm, biết yêu thương và không quay lưng khi người khác cần – thì xã hội sẽ luôn ấm áp, giàu lòng nhân ái.