Tóm tắt
Bài báo này trình bày phương pháp tính hệ số phát thải của lưới điện Việt Nam 2025 trên cơ sở sử dụng phương pháp “Kiểm kê khí nhà kính” theo hệ thống ISO 14064, và “Xác định vết carbon cho sản phẩm (Carbon FootPrint For Products)” theo ISO 14067. Phương pháp tính toán trong tài liệu này tương tự như cách tính toán hệ số phát thải của lưới điện Việt Nam cho năm 2021, 2023, 2024 của nhóm tác giả. Các dữ liệu hoạt động là sản lượng các loại hình phát điện trong năm 2025 tính bằng MWh, được trích dẫn từ Báo cáo kết quả thực hiện kế hoạch năm 2025, mục tiêu, nhiệm vụ kế hoạch năm 2026 tại Hội nghị tổng kết của Tập đoàn điện lực Việt Nam (EVN) 2025. Hệ số phát thải khí nhà kính (KNK )của các loại nguồn phát điện được sử dụng theo công bố của Ủy ban liên chính phủ về biến đối khí hậu (IPCC) và Cơ quan năng lượng nguyên tử quốc tế IAEA. Kết quả tính toán cho biết hệ số phát thải của lưới điện Việt Nam 2025 là 0,6235 tCO2e/MWh và đã giảm 8,46% so với năm 2024 (0,6811tCO2e/MWh), cũng theo tính toán của nhóm tác giả.
Từ khóa: Hệ số phát thải khí nhà kính, Lưới điện Việt Nam 2025.
1. Giới thiệu
Hệ số phát thải khí nhà kính (KNK) của lưới điện quốc gia thực chất là khối lượng KNK được quy về CO2 tương đương (CO2e) khi sản xuất được một đơn vị điện năng hay “Dấu vết carbon” cho một đơn vị điện năng kWh, MWh hoặc GWh. Thông thường, lưới điện của mỗi quốc gia đều bao gồm hai loại nguồn phát điện là từ nhiên liệu hóa thạch (than, dầu, khí đốt) và các nguồn tái tạo (thủy điện, điện gió, điện Mặt Trời, điện từ biomass…). Hệ số phát thải KNK của lưới điện bằng tổng phát thải KNK của các nguồn phát chia đều cho tổng sản lượng điện trong năm. Hệ số phát thải KNK của lưới điện phản ánh độ “sạch” của lưới điện, theo đó lưới điện càng “sạch” nếu hệ số phát thải càng thấp, tức là các nguồn phát điện từ năng lượng tái tạo chiếm tỷ lệ cao trong hệ thống.
2. Ước tính hệ số phát thải KNK của lưới điện Việt Nam 2025
2.1. Hệ số phát thải KNK của các loại hình phát điện theo
Bảng 1 liệt kê hệ số phát thải KNK theo cả vòng đời của các loại hình phát điện [2] hiện có trên thế giới. Ta có thể thấy rằng:
- Các nguồn điện tái tạo cũng không hoàn toàn sạch, nghĩa là xét trong cả vòng đời thì chúng vẫn phát thải KNK. Ví dụ điện Mặt Trời có mức phát thải thấp là 13tCO2e/GWh nhưng ở mức cao cũng có thể đạt 731tCO2e/GWh, tương đương với mức trung bình của nguồn điện sử dụng dầu (733tCO2e/GWh). Lý do là khi khai thác nguyên liệu đã làm mất rừng, khi chế tạo tinh thể Silic tốn nhiều nhiệt năng do phải nung ở nhiệt độ rất cao (khoảng 20000C)…Ngoài ra, khi xử lý pin Mặt Trời sau khi hết hạn sử dụng cũng làm phát thải nhiều khí nhà kính. Hoặc thủy điện, cũng không phải là nguồn điện “sạch” tuyệt đối vì hồ thủy điện đã làm mất rừng (mất bể hấp thụ KNK) và đồng thời làm phát thải khí mê tan trong điều kiện cây rừng bị phân hủy kị khí trong lòng hồ…
- Ở một trường hợp khác, nếu chỉ xét “sau ống khói” thì nguồn điện bằng biomas (trấu, viên nén, mùn cưa, vỏ cây…) phát thải nhiều KNK hơn ngay cả than non (Lignite). Tuy nhiên, trong Bảng 1, ta thấy hệ số phát thải KNK của nguồn điện từ biomass lại rất thấp, thậm chí thấp hơn cả điện Mặt Trời. Điều đó được giải thích là, KNK do biomass phát ra đã được “trung hòa” với lượng CO2 mà chúng đã hấp thụ khi thực vật sinh trưởng và phát triển. Vì vậy, chúng ta cũng hiểu tại sao biomass lại được coi là năng lượng tái tạo và việc sử dụng biomass làm nhiên liệu phát điện là một hình thái kinh tế tuần hoàn.
Bảng 1. Hệ số phát thải KNK của các loại hình phát điện
![]() |
![]() |
2.2. Sản lượng điện của Việt Nam 2025 [1]
Bảng 2. Sản lượng điện của Việt Nam 2025 (X triệu kWh)
|
Thứ tự |
Loại hình |
Kế hoạch |
Ước thực hiện |
So sánh |
|
|
Với 2024 |
Với KH |
||||
|
1 |
Thuỷ điện |
82.239 |
107.345 |
121,0% |
130,5% |
|
2 |
Nhiệt điện than |
176.685 |
144.775 |
94,8% |
81,9% |
|
3 |
Tua bin khí |
29.329 |
20.233 |
92,7% |
69,0% |
|
4 |
Nhiệt điện dầu |
8.061 |
76 |
43,5% |
0,9% |
|
5 |
NL tái tạo |
42.962 |
40.320 |
101,7% |
93,9% |
|
|
Tr.đó: Điện gió |
14.404 |
13.158 |
103,2% |
91,3% |
|
|
Điện mặt trời |
27.453 |
25.956 |
100,4% |
94,5% |
|
|
Sinh khối |
1.106 |
1.207 |
116,9% |
109,1% |
|
6 |
Nhập khẩu |
7.673 |
9.637 |
187,3% |
125,6% |
|
7 |
Nguồn khác |
553 |
420 |
94,2% |
76,0% |
|
|
TỔNG |
347.503 |
322.806 |
104,6% |
92,9% |
2.3. Tính hệ số phát thải KNK của lưới điện Việt Nam 2025
2.3.1. Kịch bản phát thải KNK thấp
|
TT |
Loại nguồn |
Sản lượng (MWh) |
Tỷ lệ (%) |
HSPT (tCO2e /MWh) |
Tổng lượng PT (tCO2e) |
|
1 |
Thủy điện |
107.345.000 |
33,25 |
0,002 |
214.690 |
|
2 |
Nhiệt điện than |
144.775.000 |
44,85 |
0,756 |
109.449.900 |
|
3 |
Tua bin khí |
20.233.000 |
6,30 |
0,362 |
7.324.350 |
|
4 |
Nhiệt điện dầu |
76.000 |
0,02 |
0,547 |
41.580 |
|
5 |
Nhập khẩu |
9.637.000 |
2,98 |
Không tính |
Không tính |
|
6 |
Điện gió |
13.158.000 |
4,08 |
0,006 |
78.950 |
|
7 |
Điện Mặt Trời |
25.956.000 |
8,04 |
0,013 |
337.428 |
|
8 |
Sinh khối |
1.207.000 |
0,37 |
0,010 |
12.070 |
|
9 |
Nguồn khác |
420.000 |
0,13 |
Không tính |
Không tính |
|
Tổng sản lượng |
322.807.000 |
|
|
|
|
|
Tổng sản lượng, không tính (5) và (9) |
312.750.000 |
|
|
|
|
|
Tổng phát thải của hệ thống, không tính (5) và (9) |
117.508.968 |
||||
|
Hệ số phát thải KNK= 117.508.968 tCO2e /312.750.000MWh = 0,3757tCO2e /MWh |
|||||
2.3.2 Kịch bản phát thải KNK trung bình
|
TT |
Loại nguồn |
Sản lượng (MWh) |
Tỷ lệ (%) |
HSPT (tCO2e /MWh) |
Tổng lượng PT (tCO2e) |
|
1 |
Thủy điện |
107.345.000 |
28,73 |
0,026 |
2.790.970 |
|
2 |
Nhiệt điện than |
144.775.000 |
49,48 |
0,888 |
128.560.200 |
|
3 |
Tua bin khí |
20.233.000 |
7,10 |
0,499 |
10.096.270 |
|
4 |
Nhiệt điện dầu |
76.000 |
0,05 |
0,733 |
55.710 |
|
5 |
Nhập khẩu |
9.637.000 |
2,98 |
Không tính |
Không tính |
|
6 |
Điện gió |
13.158.000 |
4,13 |
0,026 |
312.110 |
|
7 |
Điện Mặt Trời |
25.956.000 |
8,38 |
0,085 |
2.206.260 |
|
8 |
Sinh khối |
1.207.000 |
0,33 |
0,045 |
54.315 |
|
9 |
Nguồn khác |
420.000 |
0,13 |
Không tính |
Không tính |
|
Tổng sản lượng |
322.807.000 |
|
|
|
|
|
Tổng sản lượng, không tính (5) và (9) |
312.750.000 |
|
|
|
|
|
Tổng phát thải của hệ thống, không tính (5) và (9) |
144.075.835 |
||||
|
Hệ số phát thải KNK = 144.075.835 tCO2e /312.750.000 MWh = 0,4607 tCO2e /MWh |
|||||
2.3.2 Kịch bản phát thải KNK cao
|
TT |
Loại nguồn |
Sản lượng (MWh) |
Tỷ lệ (%) |
HSPT (tCO2e /MWh) |
Tổng lượng PT (tCO2e) |
|
1 |
Thủy điện |
107.345.000 |
28,73 |
0,237 |
25.440.770 |
|
2 |
Nhiệt điện than |
144.775.000 |
49,48 |
1,310 |
189.655.250 |
|
3 |
Tua bin khí |
20.233.000 |
7,10 |
0,891 |
10.027.600 |
|
4 |
Nhiệt điện dầu |
76.000 |
0,05 |
0,935 |
71.060 |
|
5 |
Nhập khẩu |
9.637.000 |
2,98 |
Không tính |
Không tính |
|
6 |
Điện gió |
13.158.000 |
4,13 |
0,124 |
1.631.600 |
|
7 |
Điện Mặt Trời |
25.956.000 |
8,38 |
0,731 |
18.973.840 |
|
8 |
Sinh khối |
1.207.000 |
0,33 |
0,101 |
121.910 |
|
9 |
Nguồn khác |
420.000 |
0,13 |
Không tính |
Không tính |
|
Tổng sản lượng |
322.807.000 |
|
|
|
|
|
Tổng sản lượng, không tính (5) và (9) |
312.750.000 |
|
|
|
|
|
Tổng phát thải của hệ thống, không tính (5) và (9) |
245.922.030 |
||||
|
Hệ số phát thải KNK = 245.922.030tCO2e /312.750.000 MWh = 0,7863 tCO2e /MWh |
|||||
Chú ý: Trong các bảng trên, ta đã loại trừ điện nhập khẩu, và nguồn khác vì chúng chiếm tỷ lệ nhỏ và không có dữ liệu hệ số phát thải
3. Tổng hợp các phương án lựa chọn
|
Phương án |
Kịch bản thấp (tCO2e /MWh) |
Kịch bản trung bình (tCO2e /MWh) |
Kịch bản cao (tCO2e /MWh) |
|
0,3757 |
0,4607 |
0,7863 |
|
|
Trung bình 3 kịch bản |
0,5409 |
||
|
Trung bình của kịch bản trung bình và cao |
0,6235 |
||
|
Phương án tin cậy nhất |
0,6235 tCO2e /MWh ) |
||
4. Kết luận, nhận xét, đánh giá độ tin cậy của kết quả và đề xuất
4.1. Kết luận
Hệ số phát thải KNK của lưới điện Việt Nam 2025 ước tính là 0,6235 tCO2/MWh.
4.2. Nhận xét
Thứ nhất: Hệ số phát thải của lưới điện Việt Nam 2025 tính trong bài báo này thấp hơn khoảng 8,46% so với năm 2024 (0,6811 tCO2/MWh). Điều này chứng tở lưới điện đã “xanh và sạch” hơn. Lý do là 2025 tỷ lệ nguồn điện than đã giảm, chỉ bằng 94,8% so với 2024 và thủy điện tăng 121% so với 2024 (Bảng 2).
Thứ hai: Sản lượng điện 2025 tăng trưởng 4,6% so với năm 2024 (Bảng 2), trong khi đó GDP tăng 8,02% (Báo cáo của Chính phủ). Theo thống kê, đây là lần đầu tiên trong lịch sử, điện năng tăng trưởng thấp hơn GDP. Theo nhận thức của chúng tôi, đây là một tín hiệu đáng mừng vì năm 2025 chúng ta đã sử dụng năng lượng điện hiệu quả hơn những năm trước. Mong rằng đây không phải là bất thường mà sẽ là xu hướng tiếp diễn trong những năm tiếp theo để chứng tỏ sự phát triển bền vững của ngành năng lượng nói riêng và nền kinh tế nói chung.
4.3. Đánh giá độ tin cậy của phép tính
Hệ số phát thải của lưới điện Việt Nam 2025 không thể thấp hơn giá trị dự tính trên vì trên thực tế hệ số phát thải của các loại hình phát điện của Việt Nam đều ở mức phát thải KNK cao vì những lý do sau:
Thứ nhất: Nhiều nhà máy nhiệt điện than (là nguồn phát điện chủ lực) thuộc thế hệ cũ, hiệu suất thấp.
Thứ hai: Các nhà máy thủy điện (chiếm tỷ lệ lớn) cũng không được vận hành tối ưu vì nguồn nước không thật ổn định và nhiều nhà máy phải hoạt động theo chế độ “điều độ” của cơ quan điều độ hệ thống điện lưới quốc gia.
Thứ ba: Các nguồn điện năng lượng tái tạo là điện Mặt Trời và điện gió, chiếm tỷ trọng khá lớn, nhưng cũng có hiệu suất thấp do quá tải của lưới điện nên phải xả bỏ nhiều.
4.4. Đề xuất
Hệ số phát thải KNK của lưới điện quốc gia là một dữ liệu quốc gia rất quan trọng trong hệ thống các dữ liệu quốc gia. Hệ số này không những đánh giá “độ xanh, sạch” của lưới điện mà còn cung cấp dữ liệu cho hoạt động kiểm kê KNK của tất cả các tổ chức, doanh nghiệp trong cả nước theo Quyết định số 13/2024/QĐ-TTg ngày 13/8/2024 về “Danh mục các cơ sở phải thực hiện kiểm kê KNK (cập nhật).
Chúng tôi cho rằng, hệ số phát thải KNK trong năm của lưới điện quốc gia cần được công bố vào Quý I của năm tiếp theo. Điều này là hết sức cần thiết để EVN đánh giá được độ “sạch” của lưới điện và trên cơ sở đó đề ra kế hoach xanh hóa lưới điện. Ngoài ra, hệ số phát thải KNK của lưới điện cần được cập nhật để phục vụ hoạt động kiểm kê KNK cho các doanh nghiệp, nhằm tăng độ tin cậy khi thực hiện kiểm kê KNK. Vì vậy, để làm tốt việc này, cơ quan chức năng cần tổ chức đào tạo, tập huấn cho tất cả các nhà máy phát điện để họ có thể tự thực hiện kiểm kê KNK và tính toán được vết carbon cho mỗi đơn vị điện năng của nhà máy mình và báo cáo kịp thời cho cơ quan chức năng. Khi đó cơ quan chức năng chỉ là người tổng hợp và tính toán hệ số phát thải cho lưới điện quốc gia. Toàn bộ công việc có thể được thực hiện online để có tốc độ xử lý nhanh và kịp thời. Nhóm tác giả cũng sẵn sàng tham gia vào việc này nếu được cơ quan chức năng yêu cầu
Lê Hải Hưng *, Nguyễn Đức Quyền*, Lê Thị Hải Thanh*, Phạm Ngọc Anh**
*Đại học Bách khoa Hà Nội; ** Bộ Nông nghiệp và Môi trường
TÀI LIỆU THAM KHẢO
[1].“Báo cáo kết quả thực hiện kế hoạch năm 2025, mục tiêu, nhiệm vụ kế hoạch năm 2026 tại Hội nghị tổng kết của Tập đoàn điện lực Việt Nam”; EVN 2025
[2].https://www.world-nuclear.org/uploadedfiles/org/wna/publications/working_grou: “Life-cycle greenhouse gas emissions of energy sources"
[3]. Lê Hải Hưng; “Thử tính toán hệ số phát thải khí nhà kính của lưới điện Việt nam 2021”; nsti.vista.gov.vn: Công bố khoa học và công nghệ Việt Nam; Chỉ số đề mục: 87
[4]. Lê Hải Hưng; “Thử tính toán hệ số phát thải khí nhà kính của lưới điện Việt nam 2023”; Tạp chí ánh sáng và Cuộc sống, 6/8/2024
[5]. Lê Hải Hưng, Phạm Ngọc Anh, Nguyễn Đức Quyền; “Ước tính hệ số phát thải khí nhà kính của lưới điện Việt nam 202”; Báo Nông nghiệp và Môi trường, 14/4/2025

