Tóm tắt: Du lịch nông nghiệp - nông thôn là loại hình du lịch dựa trên các hoạt động sản xuất nông nghiệp, đời sống nông thôn và giá trị văn hóa bản địa, góp phần đa dạng hóa sản phẩm du lịch và nâng cao thu nhập cho cộng đồng dân cư nông thôn. Tỉnh Bắc Ninh có nhiều lợi thế phát triển loại hình du lịch này nhờ hệ thống tài nguyên phong phú, bao gồm vùng nông nghiệp hàng hóa (Lục Ngạn), du lịch sinh thái - cộng đồng (Sơn Động, Lục Nam), du lịch văn hóa - tâm linh và làng nghề truyền thống (Việt Yên); chè và rừng sản xuất Yên Thế. Tuy nhiên, thực tiễn cho thấy hoạt động kết nối giữa các điểm du lịch nông nghiệp trên địa bàn tỉnh còn rời rạc, thiếu liên kết theo chuỗi giá trị, chưa hình thành được các tour, tuyến du lịch nông nghiệp hấp dẫn và bền vững. Nghiên cứu sử dụng bộ số liệu thứ cấp của tỉnh Bắc Ninh và bộ số liệu khảo sát với 250 phiếu điều tra năm 2024 nhằm đánh giá thực trạng kết nối điểm đến du lịch nông nghiệp - nông thôn gắn với sản xuất nông nghiệp trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh, từ đó đề xuất một số giải pháp tăng cường liên kết góp phần phát triển kinh tế - xã hội địa phương.
1. Đặt vấn đề
Du lịch nông nghiệp - nông thôn đang trở thành xu hướng phát triển quan trọng trong chiến lược du lịch bền vững của nhiều địa phương ở Việt Nam. Việc kết nối du lịch nông nghiệp, nông thôn gắn với sản xuất nông nghiệp không chỉ góp phần đa dạng hóa sản phẩm mà còn giúp kéo dài thời gian lưu trú và tăng chi tiêu của du khách. Các sản phẩm dịch vụ của du lịch nông thôn bao gồm: Dịch vụ hướng dẫn khách tham quan danh lam thắng cảnh, di tích lịch sử văn hóa, tham quan ngắm cảnh, miệt vườn, làng nghề; dịch vụ ẩm thực, chế biến các món ăn, đồ uống từ sản phẩm nông nghiệp, phục vụ ăn uống cho khách; dịch vụ lưu trú tại khu sinh thái, nhà dân; dịch vụ cho thuê phương tiện vận chuyển tại điểm du lịch; bán sản phẩm nông nghiệp, sản phẩm làn nghề; tổ chức cho khách trải nghiệm các hoạt động kinh tế, văn hóa xã hội ở làng xã như: học làm nông nghiệp, thu hoạch, nấu ăn...
Theo số liệu công bố của Cục Thống kê tỉnh Bắc Ninh, tính đến tháng 5 năm 2025, toàn tỉnh Bắc Giang cũ (nay là một phần của tỉnh Bắc Ninh) có khoảng 1,89 triệu hộ dân. Trong đó, khu vực thành thị có khoảng 379 nghìn hộ, chiếm tỷ trọng còn khiêm tốn trong cơ cấu dân cư của tỉnh, trong khi khu vực nông thôn chiếm ưu thế với khoảng 1,51 triệu hộ. Tổng dân số của tỉnh khoảng 1,97 triệu người, phản ánh tốc độ tăng dân số liên tục trong những năm gần đây và là một trong những tỉnh có quy mô dân số lớn ở vùng trung du và miền núi phía Bắc. Trong cơ cấu dân cư này, tỷ lệ dân số thành thị chiếm khoảng 39,65% tổng dân số, còn lại 60,35% là dân số nông thôn, cơ cấu dân cư này cho thấy Bắc Giang cũ vẫn là tỉnh có tỷ lệ dân cư và hộ gia đình sinh sống ở khu vực nông thôn cao, phản ánh rõ nét đặc trưng của một tỉnh trung du - miền núi phía Bắc đang trong quá trình đô thị hóa và chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa gắn với phát triển nông nghiệp, nông thôn bền vững. Cùng với quá trình triển khai chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới, tỉnh Bắc Giang cũ đã đạt được nhiều kết quả quan trọng.
Tính đến đầu năm 2025, toàn tỉnh có 6 đơn vị cấp huyện hoàn thành nhiệm vụ xây dựng nông thôn mới cùng với 119 xã/192 xã, phường, thị trấn được công nhận đạt chuẩn nông thôn mới, chiếm tỷ lệ cao trong tổng số các xã trên địa bàn tỉnh. Trong số đó có 53 xã đạt chuẩn nông thôn mới nâng cao và 13 xã đạt chuẩn nông thôn mới kiểu mẫu. Những kết quả này cho thấy chương trình xây dựng nông thôn mới đã góp phần quan trọng vào việc cải thiện kết cấu hạ tầng, nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của người dân nông thôn, đồng thời tạo nền tảng thuận lợi cho phát triển kinh tế nông nghiệp, nông thôn và các loại hình dịch vụ, trong đó có du lịch nông nghiệp, nông thôn trên địa bàn tỉnh Bắc Giang cũ.
Bắc Ninh là tỉnh trung du miền núi phía Bắc có sự phân hóa rõ rệt về không gian du lịch: vùng cao Sơn Động với du lịch sinh thái - tâm linh; Lục Nam, Yên Thế với du lịch sinh thái gắn di tích; Việt Yên với du lịch văn hóa - làng nghề; Lục Ngạn với du lịch nông nghiệp gắn vùng cây ăn quả ... Tuy nhiên, các điểm du lịch này phát triển còn rời rạc, thiếu liên kết theo tour, tuyến. Do đó, việc nghiên cứu thực trạng liên kết phát triển du lịch nông nghiệp - nông thôn tại tỉnh Bắc Ninh là cần thiết. Mặc dù có tiềm năng, lợi thế và sự quan tâm của chính quyền các cấp song du lịch nông nghiệp của tỉnh. Đặc biệt là sự trợ giúp của Nhà nước thông qua quyết định 922/QĐ-TTg ngày 02/08/2022 về phê duyệt chương trình phát triển du lịch nông thôn trong xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2021 – 2025 song Bắc Ninh vẫn còn một số tồn tại như: Cơ sở hạ tầng phát triển du lịch chưa đồng bộ, chưa thu hút được các nhà đầu tư lớn, không gian du lịch chưa được định hình rõ nét theo quy hoạch, chưa có nhiều sản phẩm du lịch, dịch vụ du lịch hấp dẫn, có tính cạnh tranh cao. Đặc biệt, liên kết hình thành hệ thống chuỗi du lịch trong quần thể du lịch còn chưa bài bản, mới chỉ dừng lại ở xây dựng kết cấu hạ tầng ban đầu cho các hoạt động tham quan du lịch, hoạt động quảng bá hình ảnh về điểm du lịch chưa nhiều, chủ yếu mang tính tự phát.
Những hạn chế trên đây đã và đang ảnh hưởng trực tiếp đến phát triển du lịch nông thôn của tỉnh trước mắt cũng như về lâu dài. Kết quả thực hiện các mục tiêu, nội dung chính sách đề ra còn thấp, chưa tương xứng với tiềm năng sẵn có. Thu hút đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng du lịch gặp nhiều khó khăn, tiến độ đầu tư hạ tầng các khu du lịch trọng điểm chậm; hệ thống cơ sở vật chất kỹ thuật du lịch chưa đồng bộ.... Bài viết này tập trung phân tích và đánh giá thực trạng phát triển du lịch nông nghiệp, nông thôn tỉnh Bắc Ninh giai đoạn 2022- 2024, từ đó đề xuất một số giải pháp để đẩy mạnh hoạt động kết nối các điểm đến du lịch nông nghiệp, nông thôn gắn với sản xuất nông nghiệp nhằm phát triển kinh tế trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh.
2. Cơ sở lý luận và tổng quan nghiên cứu
2.1. Cơ sở lý luận về kết nối điểm đến du lịch nông nghiệp, nông thôn
Du lịch nông nghiệp (Agritourism/Agricultural tourism) là loại hình du lịch gắn trực tiếp với hoạt động sản xuất nông nghiệp, trong đó du khách tham gia hoặc trải nghiệm các công việc canh tác, chăn nuôi, thu hoạch nông sản, chế biến thực phẩm và sinh hoạt cùng người nông dân tại các trang trại, làng quê nông nghiệp. Thông qua việc kết hợp giữa sản xuất nông nghiệp và dịch vụ du lịch, loại hình này góp phần đa dạng hóa sinh kế, nâng cao giá trị gia tăng cho nông nghiệp và cải thiện thu nhập của người nông dân. Theo Tổ chức Lương thực và Nông nghiệp Liên hợp quốc (FAO), du lịch nông nghiệp là một hình thức đa dạng hóa hoạt động nông nghiệp thông qua việc cung cấp các dịch vụ du lịch dựa trên tài nguyên và không gian sản xuất nông nghiệp, qua đó đóng góp tích cực vào phát triển kinh tế nông thôn (FAO, 2016).
Du lịch nông thôn (Rural tourism) là loại hình du lịch diễn ra chủ yếu ở khu vực nông thôn, khai thác tổng hợp các nguồn tài nguyên tự nhiên, tài nguyên nhân văn và không gian văn hóa làng quê nhằm phục vụ nhu cầu tham quan, nghỉ dưỡng, trải nghiệm và tìm hiểu đời sống nông thôn của du khách. Theo tổ chức du lịch thế giới (UNWTO), du lịch nông thôn phản ánh bản sắc văn hóa, sinh kế truyền thống, cảnh quan và lối sống đặc trưng của cộng đồng địa phương (UNWTO, 2018). Ở Việt Nam, nhiều nghiên cứu cho rằng du lịch nông thôn là tổng hòa các hoạt động du lịch gắn với nông nghiệp, văn hóa, sinh thái và cộng đồng, mang lại lợi ích kinh tế - xã hội thiết thực cho người dân nông thôn, đồng thời góp phần thúc đẩy quá trình xây dựng nông thôn mới theo hướng bền vững (Ando Katsuhiro & Hà Văn Siêu, 2013; Nguyễn Văn Mạnh & Trần Huy Đức, 2010). Trong hệ thống du lịch nông thôn, du lịch nông nghiệp được xem là bộ phận quan trọng và là hình thức tiêu biểu, có vai trò kết nối trực tiếp giữa sản xuất nông nghiệp và thị trường du lịch.
Du lịch nông nghiệp, nông thôn có một số đặc điểm cơ bản. Thứ nhất, loại hình du lịch này gắn chặt với nông nghiệp và không gian nông thôn, lấy hoạt động sản xuất nông nghiệp, làng nghề truyền thống, cảnh quan đồng quê và đời sống sinh hoạt của người dân làm nền tảng phát triển. Thứ hai, du lịch nông nghiệp, nông thôn có tính trải nghiệm cao, trong đó du khách không chỉ tham quan mà còn trực tiếp tham gia các hoạt động sản xuất và sinh hoạt văn hóa cộng đồng. Thứ ba, loại hình du lịch này thường có quy mô nhỏ, phân tán và dựa nhiều vào cộng đồng địa phương, phù hợp với mô hình phát triển “từ dưới lên”. Bên cạnh đó, du lịch nông nghiệp, nông thôn chịu ảnh hưởng rõ nét của yếu tố mùa vụ và điều kiện tự nhiên, đồng thời mang tính liên ngành và liên vùng cao, đòi hỏi sự phối hợp chặt chẽ giữa nông nghiệp, du lịch, văn hóa, môi trường và các chủ thể liên quan.
Trong phát triển du lịch, điểm đến du lịch được xác định là đơn vị không gian cốt lõi. Theo UNWTO, điểm đến du lịch là một không gian địa lý xác định, nơi du khách lưu trú ít nhất một đêm và tại đó tập trung các sản phẩm, dịch vụ, hoạt động và trải nghiệm du lịch dọc theo chuỗi giá trị (UNWTO, 2019). Ở góc độ hệ thống, điểm đến du lịch không chỉ bao gồm tài nguyên du lịch tự nhiên và văn hóa mà còn là tổng hòa của hạ tầng, dịch vụ, cộng đồng địa phương, môi trường và cơ chế quản lý. Như vậy, điểm đến du lịch là nơi diễn ra mối quan hệ tương tác giữa du khách, doanh nghiệp du lịch, cộng đồng dân cư và chính quyền địa phương, tạo ra giá trị kinh tế - xã hội cho địa phương (Nguyễn Văn Mạnh & Trần Huy Đức, 2010).
Đối với du lịch nông nghiệp, nông thôn, các điểm đến thường có quy mô nhỏ, phân bố phân tán và mức độ khai thác chưa đồng đều. Do đó, kết nối điểm đến du lịch giữ vai trò đặc biệt quan trọng trong nâng cao hiệu quả phát triển loại hình du lịch này. Kết nối điểm đến du lịch được hiểu là quá trình thiết lập và tăng cường mối liên kết giữa các điểm đến trong cùng địa phương, vùng hoặc liên vùng nhằm hình thành các tuyến, tour và chuỗi sản phẩm du lịch đồng bộ, hấp dẫn và có khả năng cạnh tranh cao.
Việc kết nối các điểm đến giúp đa dạng hóa sản phẩm du lịch, kéo dài thời gian lưu trú và gia tăng mức chi tiêu của du khách, qua đó nâng cao giá trị tổng thể của điểm đến. Đồng thời, kết nối điểm đến góp phần khai thác hiệu quả tài nguyên du lịch, phân bổ hợp lý dòng khách, giảm áp lực cho các điểm du lịch trọng tâm và tạo điều kiện phát triển các điểm đến vệ tinh, đặc biệt là các điểm đến nông thôn còn nhiều tiềm năng. Bên cạnh đó, kết nối điểm đến là cơ sở quan trọng để thúc đẩy liên kết vùng, tăng cường hợp tác giữa các địa phương, doanh nghiệp lữ hành và cộng đồng dân cư, qua đó lan tỏa lợi ích kinh tế từ du lịch đến khu vực nông thôn, góp phần phát triển kinh tế nông nghiệp, nông thôn theo hướng bền vững.
Ngoài ra, việc kết nối các điểm đến theo hướng hợp lý còn góp phần giảm tính mùa vụ, hỗ trợ phát triển du lịch bền vững và nâng cao hiệu quả quản lý, quy hoạch, quảng bá và xúc tiến du lịch. Như vậy, trong phát triển du lịch nông nghiệp, nông thôn, kết nối điểm đến không chỉ là giải pháp tổ chức tour, tuyến mà còn là định hướng chiến lược quan trọng nhằm phát huy tiềm năng tài nguyên, nâng cao giá trị và thúc đẩy phát triển bền vững kinh tế nông thôn.
Kết nối điểm đến được hiểu là mức độ liên thông giữa các điểm đến trong một vùng/chuỗi giá trị du lịch, thể hiện qua khung phân tích của hình 1:

Hình 1. Khung phân tích kết nối điểm đến du lịch nông nghiệp, nông thôn
Nguồn: Nhóm tác giả xây dựng
Hình 1 trình bày khung phân tích kết nối các điểm đến du lịch nông nghiệp, nông thôn theo tiếp cận chuỗi giá trị và logic phân tầng. Theo đó, kết nối điểm đến không chỉ được hiểu là sự liên kết không gian giữa các điểm du lịch riêng lẻ, mà là một hệ thống liên thông đa chiều bao gồm điều kiện nền, quá trình vận hành, kết nối thị trường và giá trị đích hướng tới phát triển du lịch bền vững gắn với sản xuất nông nghiệp.
Trên cơ sở khung phân tích kết nối các điểm đến du lịch nông nghiệp, nông thôn được trình bày tại hình 1, có thể thấy rằng kết nối điểm đến là một quá trình mang tính hệ thống, bao gồm nhiều tầng nấc từ điều kiện nền, kết nối vận hành, kết nối thị trường đến giá trị đích hướng tới phát triển bền vững. Khung phân tích này không chỉ làm rõ cấu trúc và logic nội tại của kết nối điểm đến, mà còn cung cấp cơ sở khoa học để lượng hóa, đánh giá mức độ kết nối trong thực tiễn phát triển du lịch ở từng địa phương cụ thể.
Đối với tỉnh Bắc Ninh, giai đoạn 2022–2024 chứng kiến sự phục hồi và tăng trưởng rõ nét của hoạt động du lịch nói chung, trong đó du lịch nông nghiệp, nông thôn nổi lên như một hướng đi có nhiều tiềm năng nhờ lợi thế về tài nguyên nông nghiệp, sản phẩm OCOP, làng nghề truyền thống và bản sắc văn hóa địa phương. Tuy nhiên, sự phát triển này vẫn đặt ra những vấn đề về tính liên thông giữa các điểm đến, đặc biệt là khả năng tổ chức các tuyến du lịch liên điểm, sự đồng bộ trong chuỗi dịch vụ và hiệu quả của cơ chế phối hợp quản lý giữa các địa phương, các ngành và các chủ thể tham gia.
Xuất phát từ yêu cầu đó, nghiên cứu tiến hành đánh giá thực trạng kết nối các điểm đến du lịch nông nghiệp, nông thôn trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh giai đoạn 2022–2024 dựa trên hệ thống tiêu chí được xây dựng theo khung phân tích tại hình 1. Việc phân tích tập trung vào bảy nhóm kết nối chủ yếu, bao gồm: (i) kết nối hạ tầng tiếp cận; (ii) kết nối thông tin - số hóa; (iii) kết nối sản phẩm - tuyến du lịch; (iv) kết nối chuỗi dịch vụ; (v) kết nối thị trường - xúc tiến; (vi) kết nối quản trị; và (vii) kết nối giá trị địa phương. Thông qua đó, nghiên cứu nhằm làm rõ những kết quả đạt được, những hạn chế tồn tại và các “điểm nghẽn” trong quá trình kết nối điểm đến, làm cơ sở đề xuất các giải pháp phù hợp với điều kiện thực tiễn của tỉnh Bắc Ninh.
3. Phương pháp nghiên cứu
Theo Nghị quyết sáp nhập tỉnh ngày 1/7/2025 (hai tỉnh Bắc Giang và Bắc Ninh sáp nhập và lấy tên là Bắc Ninh). Để đảm bảo tính thống nhất và logic trong nghiên cứu và phù hợp với chủ trương, chính sách của Nhà nước về thay đổi địa giới hành chinh nghiên cứu sử dụng số liệu thứ cấp phân tích trên địa bàn tỉnh Bắc Giang cũ nhưng thống nhất tên gọi toàn bài báo là tỉnh Bắc Ninh (một số số liệu tác giả để Bắc Giang cũ nhằm phân biệt rõ ràng địa giới hành chính trong phân tích).
Nghiên cứu sử dụng số liệu thứ cấp từ các nguồn: sách báo, tài liệu tham khảo và các bài báo đăng trên tạp chí chuyên ngành liên quan tới đề tài. Báo cáo, số liệu liên quan tới phát triển du lịch và xây dựng nông thôn mới của tỉnh Bắc Ninh và bộ số liệu với dung lượng 250 phiếu khải sát gồm: 180 khách du lịch, 15 chủ cơ sở dịch vụ, 35 hộ sản xuất - kinh doanh tại điểm du lịch và 20 cán bộ quản lý du lịch các cấp. Nội dung khảo sát tập trung vào việc đánh giá thực trạng kết nối các điểm du lịch nông nghiệp, nông thôn của tỉnh Bắc Ninh. Trong đó tác giả sử dụng thang đo Likert 5 mức độ: 5 - Rất tốt; 4 - Tốt; 3 - Trung bình; 2 - Kém; 1 - Rất kém trong đánh giá 7 nhóm tiêu chí kết nối. Các kết quả thu được sẽ được tính giá trị trung bình theo công thức:

Nghiên cứu sử dụng các phương pháp thống kê mô tả, phương pháp so sánh, phân tích ma trận SWOT để thấy được các xu hướng vận động qua các năm của các chỉ tiêu liên quan như chỉ tiêu số lượt khách du lịch nông nghiệp, nông thôn; phân tích và đánh giá thực trạng du lịch nông nghiệp, nông thôn, ...
4. Kết quả nghiên cứu và thảo luận
4.1. Quy mô khách du lịch và tài nguyên du lịch của tỉnh Bắc Ninh
Lượng khách du lịch đến tỉnh Bắc Ninh tăng cả về quy mô và chất lượng, cơ cấu khách trong giai đoạn 2022-2024.
Bảng 1. Lượng khách du lịch đến tỉnh Bắc Ninh giai đoạn 2022-2024

(Nguồn: Tổng hợp từ Cục Thống kê tỉnh Bắc Ninh, 2024)
Theo số liệu tại bảng 1, lượng khách du lịch đến tỉnh Bắc Ninh giai đoạn 2022–2024 cho thấy xu hướng phục hồi mạnh mẽ và tăng trưởng liên tục sau đại dịch. Tổng số lượt khách tăng từ 1,35 triệu lượt năm 2022 lên 2,05 triệu lượt năm 2023 (tăng 51,85%) và đạt 2,6 triệu lượt năm 2024 (tăng 26,83% so với năm 2023). Mức tăng bình quân toàn giai đoạn đạt 139,34%, phản ánh sự gia tăng đáng kể về quy mô hoạt động du lịch của tỉnh.
Xét theo cơ cấu khách, khách du lịch trong nước giữ vai trò chủ đạo, chiếm trên 99% tổng lượt khách trong cả ba năm nghiên cứu. Lượng khách nội địa tăng từ 1.341.500 lượt năm 2022 lên 2.035.000 lượt năm 2023 và đạt 2.578.000 lượt năm 2024, với mức tăng bình quân 139,19%. Điều này cho thấy thị trường du lịch nội địa tiếp tục là động lực chính thúc đẩy tăng trưởng du lịch tỉnh Bắc Ninh.
Đối với khách du lịch quốc tế, mặc dù số lượng tuyệt đối còn hạn chế, song tốc độ tăng trưởng khá cao. Lượt khách quốc tế tăng từ 8.500 lượt năm 2022 lên 15.000 lượt năm 2023 (tăng 76,47%) và đạt 22.000 lượt năm 2024 (tăng 46,67%). Mức tăng bình quân 161,57% cho thấy tín hiệu phục hồi tích cực của phân khúc khách quốc tế, đồng thời mở ra tiềm năng mở rộng thị trường trong thời gian tới.
Sự gia tăng nhanh về lượt khách du lịch là điều kiện thuận lợi cho phát triển du lịch tỉnh Bắc Ninh, đặc biệt là du lịch nông nghiệp, nông thôn. Tuy nhiên, tốc độ tăng trưởng cao cũng đặt ra yêu cầu cấp thiết về nâng cao chất lượng kết nối điểm đến, tổ chức tuyến du lịch hợp lý và phát triển chuỗi dịch vụ đồng bộ nhằm khai thác hiệu quả hơn dòng khách và hướng tới phát triển du lịch bền vững.
Thêm vào đó, sự gia tăng liên tục về lượng khách du lịch trong giai đoạn 2022 - 2024 là tín hiệu tích cực, tạo tiền đề thuận lợi cho phát triển du lịch tỉnh Bắc Ninh trong thời gian tới. Tuy nhiên, để bảo đảm tăng trưởng bền vững, tỉnh cần chú trọng nâng cao chất lượng sản phẩm du lịch, đẩy mạnh liên kết các điểm đến, đặc biệt là các điểm đến du lịch nông nghiệp, nông thôn, qua đó phát huy tốt hơn tiềm năng, lợi thế và nâng cao hiệu quả kinh tế - xã hội từ hoạt động du lịch.
Số liệu phản ánh xu hướng phục hồi mạnh sau dịch và tăng trưởng liên tục 2022 - 2024. Tuy nhiên, từ góc nhìn DLNN - NT, tăng trưởng khách vẫn mang tính “đột biến theo sự kiện - mùa vụ” (mùa quả, tuần văn hóa - du lịch, lễ hội), trong khi kết nối liên điểm để kéo dài lưu trú và tạo doanh thu ổn định quanh năm chưa rõ nét.
Đề án du lịch cộng đồng 2022 - 2030 đã xác định định hướng rất đúng: phát triển mô hình du lịch cộng đồng kết hợp farmstay, ẩm thực - mua sắm, wellness và đẩy mạnh “du lịch thông minh”. Danh mục điểm hỗ trợ cũng chỉ ra “mạng” điểm du lịch cộng đồng đa huyện và 20 điểm gắn vùng cây ăn quả ở Lục Ngạn. Vấn đề là cơ chế điều phối và công cụ liên kết chưa đủ mạnh để biến danh mục điểm thành “tuyến trải nghiệm” có thể bán được trên thị trường.
4.2. Đánh giá theo 7 nhóm tiêu chí kết nối (Likert 1–5)
Bảng 2. Điểm trung bình đánh giá các nhóm tiêu chí (n=250)

(Nguồn: Tổng hợp số liệu khảo sát, 2025)
Kết quả khảo sát tại bảng 2 cho thấy mức độ kết nối các điểm đến du lịch nông nghiệp, nông thôn tỉnh Bắc Ninh giai đoạn 2022-2024 nhìn chung đạt mức trung bình, với điểm trung bình các nhóm tiêu chí dao động từ 2,97 đến 3,56 điểm. Trong đó, kết nối giá trị địa phương đạt điểm cao nhất (3,56 điểm), phản ánh lợi thế của tỉnh trong việc gắn du lịch với sản phẩm OCOP, nông sản đặc trưng và bản sắc văn hóa nông thôn. Ngược lại, kết nối chuỗi dịch vụ (2,97 điểm) và kết nối sản phẩm - tuyến (3,05 điểm) là hai nhóm tiêu chí có điểm thấp nhất, cho thấy sự liên thông giữa các dịch vụ và việc tổ chức tour, tuyến liên điểm còn hạn chế. Các nhóm tiêu chí còn lại như kết nối hạ tầng, thông tin - số hóa, thị trường - xúc tiến và quản trị đều đạt mức trung bình, sự tham gia của các công ty du lịch trong tỉnh con rất hạn chế, tất cả những vấn đề trên phản ánh sự thiếu đồng bộ giữa các điểm đến. Kết quả này cho thấy, mặc dù tiềm năng du lịch nông nghiệp, nông thôn của tỉnh khá lớn, song hiệu quả kết nối điểm đến chưa cao và cần được cải thiện trong thời gian tới..
4.3. Phân tích các “nút thắt” trong kết nối các điểm đến du lịch nông nghiệp, nông thôn
Kết quả khảo sát kết hợp với phân tích thực tiễn cho thấy, mặc dù du lịch nông nghiệp, nông thôn tỉnh Bắc Ninh giai đoạn 2022–2024 đã có những bước phát triển nhất định, song quá trình kết nối các điểm đến vẫn còn nhiều hạn chế, chưa tương xứng với tiềm năng và lợi thế sẵn có. Các “nút thắt” trong kết nối điểm đến thể hiện trên nhiều khía cạnh, từ tổ chức sản phẩm, chuỗi dịch vụ đến xúc tiến thị trường và cơ chế quản lý.
Trước hết, nút thắt lớn nhất nằm ở khâu tổ chức sản phẩm và tuyến du lịch. Phần lớn các điểm du lịch nông nghiệp, nông thôn hiện vẫn phát triển theo hướng đơn điểm, thiếu sự liên kết thành các tour, tuyến liên xã trong tỉnh hoặc các gói trải nghiệm trọn gói. Điều này dẫn đến thời gian lưu trú của du khách ngắn, mức chi tiêu thấp và khó hình thành dòng khách ổn định.
Bên cạnh đó, sự liên kết trong chuỗi dịch vụ du lịch còn lỏng lẻo. Các dịch vụ lưu trú, ăn uống, hướng dẫn, mua sắm và vận chuyển chưa được tổ chức đồng bộ, chất lượng dịch vụ giữa các điểm đến còn chênh lệch. Nhiều điểm du lịch chưa đủ điều kiện cung cấp trọn vẹn các dịch vụ thiết yếu, làm giảm tính liên hoàn của trải nghiệm du lịch nông nghiệp, nông thôn.
Kết nối thông tin và ứng dụng công nghệ số cũng là một điểm nghẽn đáng chú ý. Mặc dù công tác tuyên truyền, quảng bá du lịch đã được quan tâm, song việc xây dựng hệ thống bản đồ số, thuyết minh điện tử và nền tảng đặt dịch vụ chung cho các tuyến du lịch nông nghiệp, nông thôn còn hạn chế. Thông tin về điểm đến và sản phẩm du lịch còn phân tán, gây khó khăn cho du khách trong quá trình tiếp cận và lựa chọn.
Ngoài ra, hoạt động xúc tiến và kết nối thị trường chưa thực sự hiệu quả. Du lịch nông nghiệp, nông thôn của tỉnh chưa hình thành được thương hiệu chung đủ mạnh; sự liên kết với các doanh nghiệp lữ hành trong và ngoài tỉnh còn yếu, dẫn đến khả năng đưa sản phẩm du lịch ra thị trường còn hạn chế.
Cuối cùng, nút thắt về cơ chế quản trị và phối hợp liên ngành, liên địa phương vẫn chưa được tháo gỡ triệt để. Việc thiếu một cơ chế điều phối thống nhất trong phát triển các tuyến du lịch liên huyện đã làm cho các hoạt động kết nối điểm đến mang tính tự phát, thiếu tính bền vững.
4.4. Phân tích điểm mạnh - điểm yếu, cơ hội - thách thức (SWOT) của du lịch nông nghiệp, nông thôn trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh
Tổng hợp kết quả phân tích “nút thắt” cho thấy kết nối điểm đến ở mức trung bình; lợi thế nổi bật nằm ở giá trị địa phương (OCOP/nông sản/văn hóa), trong khi hạn chế chủ yếu thuộc về tổ chức sản phẩm - tuyến, chuỗi dịch vụ, số hóa và cơ chế điều phối. Ma trận SWOT dưới đây làm rõ các yếu tố nội tại - bối cảnh và định hướng chiến lược ưu tiên.
Bảng 3. Ma trận SWOT về thực trạng kết nối các điểm đến DLNN-NT tỉnh Bắc Ninh

Nguồn: Nhóm tác giả tổng hợp, đề xuất.
Ma trận SWOT cho thấy lợi thế nổi bật của kết nối điểm đến DLNN-NT Bắc Ninh nằm ở giá trị địa phương (OCOP - nông sản - văn hóa) và nền tảng hạ tầng tiếp cận tương đối cải thiện, tạo điều kiện hình thành cụm/tuyến liên huyện. Tuy nhiên, điểm yếu trọng tâm là tổ chức sản phẩm - tuyến và liên kết chuỗi dịch vụ còn rời rạc, kèm theo hạn chế về số hóa “một cửa” và cơ chế điều phối liên xã - liên ngành. Về bối cảnh, cơ hội đến từ xu hướng du lịch trải nghiệm, du lịch cuối tuần và chuyển đổi số, trong khi thách thức lớn là cạnh tranh điểm đến, tính mùa vụ, cùng rủi ro quá tải - môi trường - mai một bản sắc. Do đó, định hướng ưu tiên là S - O (xây tour/tuyến liên xã gắn với sản phẩm OCOP), S - T (quản lý sức chứa - môi trường), W - O (đào tạo & số hóa đặt dịch vụ), và W - T (giảm mùa vụ, nâng chất chuỗi dịch vụ để tăng năng lực cạnh tranh).
4.5. Giải pháp tăng cường kết nối điểm đến DLNN-NT Bắc Ninh
Trên cơ sở phân tích thực trạng và các “nút thắt” trong kết nối điểm đến du lịch nông nghiệp, nông thôn tỉnh Bắc Ninh giai đoạn 2022 - 2024, phân tích điểm mạnh - điểm yếu, cơ hội - thách thức theo ma trận SWOT, nhóm nghiên cứu nghiên cứu đề xuất một số giải pháp trọng tâm nhằm nâng cao hiệu quả kết nối điểm đến theo hướng đồng bộ, bền vững và phù hợp với điều kiện thực tiễn của địa phương trong giai đoạn sau năm 2024.
Thứ nhất, tăng cường tổ chức và phát triển sản phẩm, tuyến du lịch liên điểm. Cần chuyển từ cách tiếp cận phát triển từng điểm du lịch đơn lẻ sang tổ chức các tour, tuyến du lịch nông nghiệp, nông thôn liên huyện, gắn với lợi thế đặc trưng của từng vùng. Việc xây dựng các gói trải nghiệm trọn gói theo mùa vụ, kết hợp tham quan - trải nghiệm - mua sắm đặc sản sẽ góp phần kéo dài thời gian lưu trú và gia tăng chi tiêu của du khách.
Thứ hai, đẩy mạnh liên kết chuỗi dịch vụ du lịch tại các điểm đến. Các địa phương cần khuyến khích sự tham gia của hộ dân, hợp tác xã và doanh nghiệp trong cung ứng dịch vụ lưu trú, ăn uống, hướng dẫn, vận chuyển và mua sắm, từng bước hình thành chuỗi dịch vụ đồng bộ. Đồng thời, chú trọng nâng cao chất lượng dịch vụ thông qua đào tạo kỹ năng du lịch cộng đồng, bảo đảm tính thống nhất và chuyên nghiệp trong phục vụ du khách.
Thứ ba, tăng cường ứng dụng công nghệ số trong kết nối và quản lý điểm đến. Ưu tiên xây dựng hệ thống bản đồ số, thuyết minh điện tử và nền tảng cung cấp thông tin, đặt dịch vụ chung cho các tuyến du lịch nông nghiệp, nông thôn. Việc đẩy mạnh số hóa không chỉ giúp du khách dễ dàng tiếp cận thông tin mà còn hỗ trợ công tác quản lý, giám sát chất lượng dịch vụ tại các điểm đến.
Thứ tư, nâng cao hiệu quả xúc tiến, quảng bá và kết nối thị trường du lịch. Cần xây dựng thương hiệu chung cho du lịch nông nghiệp, nông thôn tỉnh Bắc Ninh, gắn với sản phẩm OCOP, làng nghề truyền thống và văn hóa bản địa. Đồng thời, tăng cường liên kết với các doanh nghiệp lữ hành trong và ngoài tỉnh nhằm mở rộng thị trường, hình thành các tuyến du lịch ổn định và bền vững.
Thứ năm, hoàn thiện cơ chế quản trị và điều phối phát triển du lịch nông nghiệp, nông thôn. Cần xây dựng cơ chế phối hợp chặt chẽ giữa các địa phương, các ngành và các chủ thể tham gia hoạt động du lịch; xác định rõ vai trò điều phối trong phát triển các tuyến du lịch liên điểm. Việc hoàn thiện cơ chế quản trị sẽ góp phần tháo gỡ các “nút thắt” trong kết nối điểm đến, bảo đảm phát triển du lịch nông nghiệp, nông thôn theo hướng hiệu quả và bền vững.
5. Kết luận
Nghiên cứu đã phân tích thực trạng kết nối các điểm đến du lịch nông nghiệp, nông thôn tỉnh Bắc Ninh giai đoạn 2022–2024 trên cơ sở khung phân tích tiếp cận chuỗi giá trị và kết quả khảo sát 250 phiếu điều tra. Kết quả nghiên cứu cho thấy, mặc dù du lịch nông nghiệp, nông thôn của tỉnh đã có những chuyển biến tích cực và sở hữu nhiều lợi thế về tài nguyên nông nghiệp, sản phẩm OCOP và bản sắc văn hóa địa phương, song mức độ kết nối giữa các điểm đến vẫn chủ yếu ở mức trung bình, chưa phát huy hết tiềm năng sẵn có.
Các “nút thắt” trong kết nối điểm đến được xác định tập trung vào việc tổ chức sản phẩm và tuyến du lịch liên điểm, sự thiếu đồng bộ trong chuỗi dịch vụ, hạn chế về ứng dụng công nghệ số, hiệu quả xúc tiến thị trường chưa cao và cơ chế phối hợp, điều phối chưa thực sự chặt chẽ. Đây là những nguyên nhân chính làm hạn chế khả năng kéo dài thời gian lưu trú, gia tăng chi tiêu và hình thành dòng khách ổn định cho du lịch nông nghiệp, nông thôn của tỉnh.
Trên cơ sở đó, nghiên cứu đã đề xuất một số nhóm giải pháp trọng tâm nhằm tăng cường kết nối điểm đến du lịch nông nghiệp, nông thôn tỉnh Bắc Ninh trong giai đoạn sau năm 2024, bao gồm: tổ chức lại sản phẩm và tuyến du lịch liên điểm; tăng cường liên kết chuỗi dịch vụ; đẩy mạnh ứng dụng công nghệ số; nâng cao hiệu quả xúc tiến, quảng bá và hoàn thiện cơ chế quản trị điểm đến. Việc triển khai đồng bộ các giải pháp này không chỉ góp phần nâng cao hiệu quả phát triển du lịch nông nghiệp, nông thôn mà còn thúc đẩy phát triển kinh tế nông thôn theo hướng bền vững, phù hợp với định hướng phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh Bắc Ninh góp phần phát triển kinh tế - xã hội địa phương.
Tài liệu tham khảo
1. Ando, K. & Hà Văn Siêu (2013), Cẩm nang thực tiễn phát triển du lịch nông thôn Việt Nam, Tổng cục Du lịch Việt Nam - Cơ quan Hợp tác Quốc tế Nhật Bản (JICA), Hà Nội.
2. Bùi Xuân Nhàn (2009), Du lịch với vấn đề phát triển nông thôn ở Việt Nam, Tạp chí Cộng sản, số 802.
3. FAO (2016), Agritourism and Rural Development, Food and Agriculture Organization of the United Nations, Rome.
4. Nguyễn Văn Mạnh & Trần Huy Đức (2010), Phát triển du lịch nông thôn để thúc đẩy hiện đại hóa nông thôn, NXB Đại học Kinh tế Quốc dân, Hà Nội.
5. Tổng cục Du lịch Việt Nam (2018), Du lịch nông thôn gắn với xây dựng nông thôn mới, Hà Nội.
6. UNWTO (2018), Tourism and Rural Development, World Tourism Organization, Madrid.
7. UNWTO (2019), Tourism Destination Management, World Tourism Organization, Madrid.
8. Cục Thống kê tỉnh Bắc Giang (2023), Niên giám thống kê tỉnh Bắc Giang năm 2022, NXB Thống kê, Hà Nội.
9. Cục Thống kê tỉnh Bắc Giang (2024), Niên giám thống kê tỉnh Bắc Giang năm 2023, NXB Thống kê, Hà Nội.
10. Cục Thống kê tỉnh Bắc Ninh (2025), Báo cáo tình hình kinh tế - xã hội tỉnh Bắc Giang giai đoạn 2022 - 2024, Bắc Giang.
11. Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Bắc Giang (2024), Báo cáo kết quả phát triển du lịch tỉnh Bắc Giang, Bắc Giang.
12. Ủy ban nhân dân tỉnh Bắc Giang (2023), Chương trình phát triển du lịch tỉnh Bắc Giang giai đoạn 2021 - 2025, định hướng đến năm 2030, Bắc Giang.