
Bước sang năm 2026, chính sách tuổi nghỉ hưu của Việt Nam tiếp tục được điều chỉnh theo lộ trình đã được luật hóa, phản ánh xu hướng già hóa dân số và yêu cầu cân đối dài hạn quỹ bảo hiểm xã hội. Theo đó, người lao động làm việc trong điều kiện bình thường sẽ nghỉ hưu ở độ tuổi cao hơn so với năm trước, đồng thời các quy định về nghỉ hưu sớm, nghỉ hưu muộn và điều kiện hưởng lương hưu cũng được xác định rõ ràng, chi tiết.
Cụ thể, theo lộ trình tại Bộ luật Lao động năm 2019, trong năm 2026, lao động nam làm việc trong điều kiện lao động bình thường sẽ nghỉ hưu khi đủ 61 tuổi 6 tháng, tăng thêm 3 tháng so với năm 2025. Đối với lao động nữ, độ tuổi nghỉ hưu là 57 tuổi, tăng 4 tháng so với năm trước. Đây là bước điều chỉnh tiếp theo nhằm tiến tới mốc 62 tuổi đối với nam vào năm 2028 và 60 tuổi đối với nữ vào năm 2035.
Lộ trình này được áp dụng thống nhất từ năm 2021, khi tuổi nghỉ hưu trong điều kiện bình thường là 60 tuổi 3 tháng đối với nam và 55 tuổi 4 tháng đối với nữ. Từ đó đến nay, mỗi năm tuổi nghỉ hưu của nam tăng thêm 3 tháng, còn nữ tăng 4 tháng, bảo đảm sự điều chỉnh gradual, hạn chế xáo trộn lớn đối với thị trường lao động và đời sống người lao động.
Bên cạnh quy định chung, pháp luật vẫn dành những cơ chế linh hoạt cho các nhóm lao động đặc thù được nghỉ hưu sớm hơn so với độ tuổi nêu trên, với điều kiện phải đáp ứng yêu cầu tối thiểu về thời gian đóng bảo hiểm xã hội.
Đối với người làm việc trong môi trường nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm hoặc công tác tại vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, nếu có từ đủ 15 năm trở lên làm các công việc này hoặc làm việc tại địa bàn khó khăn (kể cả thời gian hưởng phụ cấp khu vực hệ số từ 0,7 trở lên trước ngày 1/1/2021), người lao động có thể nghỉ hưu ở độ tuổi thấp hơn, nhưng không quá 5 năm so với tuổi nghỉ hưu trong điều kiện bình thường tại thời điểm nghỉ.
Riêng đối với lao động làm công việc khai thác than trong hầm lò, chính sách ưu đãi được thiết kế ở mức cao hơn. Người có từ đủ 15 năm trở lên trực tiếp làm việc trong hầm lò có thể nghỉ hưu sớm hơn tối đa 10 năm so với tuổi nghỉ hưu thông thường. Danh mục các công việc cụ thể được xác định tại Phụ lục I của Nghị định số 158/2025/NĐ-CP, văn bản hướng dẫn chi tiết việc thực hiện Luật Bảo hiểm xã hội đối với bảo hiểm xã hội bắt buộc.
Ngoài ra, một số nhóm đối tượng đặc thù như sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công an nhân dân và các đối tượng khác theo quy định của pháp luật chuyên ngành cũng có thể nghỉ hưu sớm hơn tối đa 5 tuổi nếu có đủ 15 năm đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc, trừ trường hợp luật chuyên ngành có quy định riêng. Đối với người lao động bị nhiễm HIV/AIDS do tai nạn rủi ro nghề nghiệp, điều kiện về tuổi không được đặt ra; chỉ cần đủ thời gian đóng bảo hiểm xã hội theo quy định là có thể hưởng lương hưu.
Trường hợp người lao động bị suy giảm khả năng lao động cũng được xem xét nghỉ hưu trước tuổi. Tuy nhiên, nhóm này phải có thời gian đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc từ đủ 20 năm trở lên và mức lương hưu sẽ bị giảm do nghỉ sớm. Theo quy định, mỗi năm nghỉ hưu trước tuổi sẽ bị trừ 2% tỷ lệ hưởng.
Cụ thể, người suy giảm khả năng lao động từ 61% đến dưới 81% có thể nghỉ hưu sớm hơn tối đa 5 năm; nếu mức suy giảm từ 81% trở lên, thời gian nghỉ sớm có thể lên tới 10 năm. Người vừa làm nghề, công việc đặc biệt nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm từ đủ 15 năm trở lên, vừa bị suy giảm khả năng lao động từ 61% cũng thuộc diện được hưởng lương hưu với tỷ lệ thấp hơn.
Ở chiều ngược lại, pháp luật cũng cho phép một số trường hợp nghỉ hưu ở tuổi cao hơn. Người lao động có trình độ chuyên môn, kỹ thuật cao hoặc thuộc nhóm đặc biệt có thể thỏa thuận với người sử dụng lao động để tiếp tục làm việc sau tuổi nghỉ hưu, nhưng không quá 5 năm so với quy định tại thời điểm nghỉ, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.
Về điều kiện hưởng lương hưu, Luật Bảo hiểm xã hội năm 2024, có hiệu lực từ ngày 1/7/2025, đã đưa ra điểm mới đáng chú ý khi giảm yêu cầu về thời gian đóng bảo hiểm xã hội tối thiểu xuống còn 15 năm, thay vì 20 năm như trước đây. Quy định này áp dụng cho cả người tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc và tự nguyện, qua đó mở rộng cơ hội tiếp cận chế độ hưu trí cho nhiều lao động có quá trình tham gia bảo hiểm không liên tục hoặc thời gian đóng ngắn.
Mức lương hưu hằng tháng được tính dựa trên tỷ lệ hưởng và mức bình quân tiền lương làm căn cứ đóng bảo hiểm xã hội. Lao động nữ đạt 45% tương ứng với 15 năm đóng, sau đó mỗi năm tăng thêm 2%, tối đa 75%. Lao động nam đạt 45% khi có đủ 20 năm đóng, mỗi năm tiếp theo cộng thêm 2%, trần cũng là 75%. Trường hợp lao động nam có từ đủ 15 năm đến dưới 20 năm đóng bảo hiểm xã hội, mức hưởng khởi điểm là 40% cho 15 năm, sau đó mỗi năm tăng thêm 1%.
Bước sang năm 2026, tuổi nghỉ hưu tiếp tục tăng theo đúng lộ trình đã định, song đi kèm là hệ thống quy định linh hoạt hơn về nghỉ sớm, nghỉ muộn và điều kiện hưởng lương hưu, nhằm dung hòa giữa yêu cầu an sinh xã hội và đặc thù đa dạng của thị trường lao động.