
Trong lộ trình hiện thực hóa cam kết phát thải ròng bằng “0” vào năm 2050, nông nghiệp Việt Nam đang được đặt vào vị trí trung tâm của quá trình chuyển đổi. Không chỉ bởi đây là ngành phát thải đáng kể, mà còn vì nông nghiệp gắn trực tiếp với sinh kế của hàng chục triệu người dân. Trong bức tranh đó, cây lúa, loại cây trồng chủ lực với diện tích lớn nhất cả nước được xác định là điểm khởi đầu quan trọng cho chiến lược giảm phát thải quy mô lớn.

PGS.TS Mai Văn Trịnh, Viện trưởng Viện Môi trường Nông nghiệp, cho rằng Việt Nam đang sở hữu nhiều lợi thế để biến nông nghiệp thành một “nguồn tạo giá trị xanh”. Diện tích đất nông nghiệp lớn, lực lượng lao động đông đảo cùng kinh nghiệm sản xuất tích lũy qua nhiều thế hệ là nền tảng quan trọng để triển khai các giải pháp giảm phát thải trên diện rộng, thay vì chỉ dừng ở những mô hình nhỏ lẻ.
Việt Nam hiện theo đuổi hai mục tiêu lớn về khí hậu: thực hiện Đóng góp do quốc gia tự quyết định (NDC) đến năm 2030, đang cập nhật cho giai đoạn đến năm 2035, và cam kết đạt phát thải ròng bằng “0” vào năm 2050. Để đạt được các mục tiêu này, những ngành phát thải lớn, trong đó có nông nghiệp, buộc phải xây dựng lộ trình cụ thể, có thể đo lường và kiểm chứng.

Trong bối cảnh đó, Đề án “Phát triển bền vững một triệu ha chuyên canh lúa chất lượng cao và phát thải thấp gắn với tăng trưởng xanh vùng đồng bằng sông Cửu Long đến năm 2030” ra đời. Từ mục tiêu ban đầu là nâng cao giá trị hạt gạo, đề án nhanh chóng mở rộng sang mục tiêu giảm phát thải, bởi ngành lúa gạo sớm hay muộn cũng phải tham gia vào lộ trình giảm phát thải quốc gia và toàn cầu. Việc thay đổi phương thức canh tác trên hàng triệu hecta lúa được kỳ vọng có thể giúp cắt giảm hàng chục triệu tấn CO2 mỗi năm.
Một điểm thuận lợi là lĩnh vực trồng trọt đã có nền tảng chính sách tương đối đầy đủ, từ Chiến lược phát triển ngành trồng trọt đến năm 2030, tầm nhìn 2050, Luật Trồng trọt, các đề án tái cơ cấu ngành cho đến những chương trình chuyên biệt về bảo vệ sức khỏe đất và trồng trọt giảm phát thải giai đoạn 2025-2035. Tuy nhiên, theo các nhà khoa học, thách thức lớn nhất không nằm ở việc thiếu chính sách hay công nghệ, mà ở khâu tổ chức thực hiện trên đồng ruộng.

Qua nhiều năm nghiên cứu thực địa, Viện Môi trường Nông nghiệp nhận thấy, yếu tố then chốt của giảm phát thải trong canh tác lúa không phải là áp dụng những kỹ thuật hoàn toàn mới, mà là chuẩn hóa các thực hành sẵn có theo đúng quy trình khoa học. Khi nông dân hiểu rõ vì sao cần rút nước ở thời điểm nhất định, phơi ruộng trong bao nhiêu ngày, quản lý mực nước ra sao để rễ lúa được tiếp oxy hiệu quả, thì việc giảm phát thải khí mê-tan mới đạt được kết quả bền vững.
Trong giai đoạn 2024-2025, Viện đã triển khai 11 mô hình mẫu tại các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long, trong đó có hai mô hình được xây dựng cùng Viện Lúa quốc tế (IRRI). Các mô hình này không chỉ nhằm kiểm chứng quy trình kỹ thuật, mà còn giúp điều chỉnh phương pháp cho phù hợp với điều kiện canh tác và tập quán sản xuất của nông dân Việt Nam.
Một lợi thế lớn của sản xuất lúa là tính liên kết cao thông qua hệ thống thủy lợi và vai trò điều phối của hợp tác xã. Khi lịch tưới, rút nước được thống nhất ở cấp hợp tác xã, cả cánh đồng sẽ vận hành theo cùng một nhịp, tạo sự đồng đều trong canh tác và thuận lợi cho giám sát. Với hệ thống thủy lợi tương đối đồng bộ tại nhiều vùng sản xuất lúa trọng điểm, việc áp dụng phương pháp tưới ngập - khô xen kẽ theo lịch chung được đánh giá là hoàn toàn khả thi.
Tuy nhiên, theo PGS.TS Mai Văn Trịnh, mọi nỗ lực giảm phát thải sẽ khó được công nhận nếu thiếu một hệ thống đo đạc, báo cáo và thẩm định (MRV) đủ tin cậy. Các loại khí nhà kính như CO2, CH4 hay N2O không thể “nhìn thấy” hay “cân đong” trực tiếp, do đó việc xác định mức phát thải hay lượng giảm phát thải bắt buộc phải dựa trên phương pháp khoa học và dữ liệu chuẩn xác.

Việc Bộ Nông nghiệp và Môi trường ban hành Quyết định số 4801/QĐ-BNNMT ngày 14/11/2025 về quy trình thí điểm MRV trong canh tác lúa chất lượng cao, phát thải thấp tại đồng bằng sông Cửu Long được xem là bước đi quan trọng. Theo lộ trình, ngay trong năm 2026, MRV sẽ được áp dụng thí điểm trên khoảng 16.000 ha lúa trong tổng diện tích mà các địa phương đã đăng ký sản xuất bền vững.
Cốt lõi của MRV là xác định đúng đường phát thải cơ sở và theo dõi chính xác các biện pháp giảm phát thải mà nông dân thực hiện, từ quản lý nước, sử dụng phân bón đến xử lý rơm rạ. Để phù hợp với điều kiện sản xuất đại trà, quy trình MRV được thiết kế theo hướng đơn giản, dễ hiểu, hạn chế phụ thuộc vào thiết bị công nghệ cao và chi phí lớn. Thực tế cho thấy, cách tiếp cận này giúp cán bộ kỹ thuật và nông dân nhanh chóng làm quen, chủ động ghi chép và nhận thấy rõ hiệu quả ngay trên đồng ruộng.
Song song với đó, Viện Môi trường Nông nghiệp đang từng bước xây dựng hệ thống MRV số, cho phép nhập dữ liệu trực tiếp lên phần mềm và thay thế dần hồ sơ giấy. Trong thời gian tới, Bộ Nông nghiệp và Môi trường dự kiến ban hành quy trình MRV chính thức để áp dụng thống nhất trên phạm vi cả nước, tạo nền tảng cho việc phát triển các dự án tín chỉ carbon trong nông nghiệp.
Về dài hạn, theo Đề án trồng trọt phát thải thấp, MRV sẽ được mở rộng cho tất cả các cây trồng, trước mắt ưu tiên những cây có tổng phát thải lớn như lúa, ngô, mía, chè, cà phê, sắn, đồng thời xem xét các cây xuất khẩu chủ lực như hồ tiêu, điều, sầu riêng, chuối. Khi các thực hành phát thải thấp được chuẩn hóa, nông sản Việt Nam không chỉ mang giá trị kinh tế, mà còn chứa đựng giá trị môi trường, góp phần khẳng định vai trò của nông nghiệp Việt Nam trong hành trình phát triển xanh và bền vững.
Trần Huyền