
Dù ghi nhận những tín hiệu tăng tốc rõ rệt vào giai đoạn cuối năm, tiến độ giải ngân vốn đầu tư công năm 2025 vẫn chưa chạm tới mục tiêu đề ra. Theo số liệu của Bộ Tài chính, tính đến hết ngày 31/12/2025, tổng giá trị giải ngân đạt 755.141,6 tỷ đồng, tăng 2,4% so với cùng kỳ năm trước, song mới hoàn thành 82,7% kế hoạch do Thủ tướng Chính phủ giao. Thực tế này cho thấy nhiều dự án vẫn đang bị kìm hãm bởi các “nút thắt” kéo dài trong quá trình triển khai.
Đánh giá chung của Bộ Tài chính cho thấy, riêng trong tháng 12, giải ngân trên phạm vi cả nước đã có bước bứt phá mạnh so với các tháng trước đó và tiếp tục cao hơn cùng kỳ năm 2024. Tuy nhiên, mức tăng này vẫn chưa đủ để bù đắp cho sự chậm trễ kéo dài trong phần lớn thời gian của năm. Không ít bộ, ngành và địa phương có tỷ lệ giải ngân thấp hơn mức bình quân chung, khiến mục tiêu giải ngân 100% kế hoạch năm 2025 chưa thể đạt được.
Trong bức tranh chung, vẫn xuất hiện những điểm sáng. Có 11 bộ, cơ quan trung ương đạt hoặc vượt mức bình quân giải ngân của cả nước, gồm: Ngân hàng Phát triển, Tổng công ty Đầu tư phát triển đường cao tốc Việt Nam, Đài Truyền hình Việt Nam, Bộ Công Thương, Kiểm toán Nhà nước, Văn phòng Trung ương Đảng, Bộ Tài chính, Tập đoàn Điện lực Việt Nam, Bộ Nội vụ, Bộ Quốc phòng và Bộ Tư pháp. Ở khối địa phương, 15 tỉnh, thành phố ghi nhận kết quả tích cực, trong đó có Ninh Bình, Hà Tĩnh, Lào Cai, Thanh Hóa, Phú Thọ, Thái Nguyên, Hà Nội, Hải Phòng, Bắc Ninh, Quảng Ninh, Gia Lai, Cao Bằng, Tây Ninh, Đồng Tháp và Nghệ An.
Phân tích nguyên nhân, Bộ Tài chính cho rằng sự chậm trễ trong giải ngân xuất phát từ cả yếu tố chủ quan lẫn khách quan. Ở góc độ nội tại, việc xây dựng kế hoạch vốn tại một số bộ, ngành và địa phương chưa sát với khả năng thực hiện, nhu cầu đăng ký chưa phù hợp với năng lực triển khai, dẫn tới tình trạng điều chỉnh nhiều lần, ảnh hưởng trực tiếp đến tiến độ và hiệu quả sử dụng vốn.
Cùng với đó, công tác giải phóng mặt bằng và bố trí tái định cư tại một số địa phương chưa được triển khai quyết liệt, khiến việc bàn giao mặt bằng bị kéo dài. Đây được xem là “điểm nghẽn” lớn, gây ách tắc dây chuyền cho thi công và giải ngân. Ngoài ra, hạn chế về năng lực và trách nhiệm của một bộ phận chủ đầu tư, ban quản lý dự án, nhà thầu, cũng như sự phối hợp chưa đồng bộ giữa các cơ quan liên quan, đã khiến khối lượng giải ngân dồn mạnh vào thời điểm cuối năm.
Về phía khách quan, điều kiện thời tiết bất lợi, đặc biệt là mưa bão liên tiếp trong những tháng cuối năm, đã tác động trực tiếp đến tiến độ nhiều công trình, nhất là các dự án giao thông trọng điểm. Bên cạnh đó, một số quy định, chính sách dù đã được sửa đổi nhưng khi đi vào thực tiễn vẫn nảy sinh vướng mắc mới, như thiếu cơ chế tạm cư hoặc hỗ trợ thuê nhà trong thời gian chờ tái định cư; chưa có hướng dẫn cụ thể về điều chỉnh giá hợp đồng khi giá vật liệu xây dựng biến động mạnh; hay còn lúng túng trong thẩm định và triển khai các dự án công nghệ thông tin.
Ngoài những yếu tố trên, tình trạng khan hiếm vật liệu xây dựng, thủ tục giải ngân vốn ODA phụ thuộc nhiều vào nhà tài trợ, khó khăn phát sinh trong quá trình sắp xếp, sáp nhập đơn vị hành chính, cùng việc một lượng vốn lớn được giao bổ sung khi nhiều địa phương chưa hoàn tất thủ tục đầu tư, cũng làm gia tăng áp lực cho công tác giải ngân.
Trước thực trạng đó, Bộ Tài chính đã kiến nghị tập trung tháo gỡ vướng mắc theo 6 nhóm nhiệm vụ trọng tâm. Trong đó, nhấn mạnh việc rà soát, hoàn thiện cơ chế chính sách; xử lý dứt điểm các tồn tại trong giải phóng mặt bằng; chủ động bảo đảm nguồn cung vật liệu xây dựng; đẩy nhanh tiến độ các dự án quan trọng quốc gia như đường sắt tốc độ cao Bắc - Nam và các tuyến kết nối Việt Nam - Trung Quốc; tăng cường năng lực đội ngũ cán bộ triển khai dự án, nhất là ở vùng sâu, vùng xa; đồng thời rút gọn thủ tục, đơn giản hóa hồ sơ thanh toán, tránh dồn khối lượng giải ngân vào cuối năm và kiểm soát chặt chẽ việc tạm ứng, thu hồi tạm ứng.
Theo Bộ Tài chính, nếu các giải pháp này được thực hiện đồng bộ và quyết liệt, tiến độ giải ngân đầu tư công trong thời gian tới sẽ được cải thiện, qua đó phát huy hiệu quả nguồn vốn và tạo động lực cho tăng trưởng kinh tế.